Thứ sáu, 23/7/2004 | 14:56 GMT+7
|
Thứ sáu, 23/7/2004 | 14:56 GMT+7

Những 'hạt sạn' trong đề thi, đáp án môn Văn

Tại kỳ thi ĐH vừa qua, câu II của đề Văn khối C và D đều yêu cầu phân tích thơ. Nhưng ở đề D, văn bản đoạn thơ trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên thì được đưa vào đề. Còn ở khối C, văn bản 2 bài thơ Mộ và Tảo giải của Hồ Chí Minh lại không được đưa vào.

Các giám khảo chấm thi.

Các giám khảo chấm thi.

Trong khi đó, bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên thuần túy bằng chữ quốc ngữ, dễ nhớ, dễ thuộc, không có dị bản. Còn Mộ và Tảo giải của Hồ Chí Minh nguyên văn chữ Hán (phiên âm Hán Việt), đã khó nhớ khó thuộc, lại có nhiều bản dịch thơ chữ quốc ngữ khác nhau.

Câu hỏi số 1 đề D yêu cầu: Anh/chị hãy nêu những nét chính trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân. Theo Hướng dẫn chấm thi của Bộ, câu này "nhằm kiểm tra kiến thức đã học trong sách giáo khoa. Thí sinh chỉ cần tái hiện chính xác…". Nhưng bản thân đáp án của Bộ lại không chịu "tái hiện chính xác kiến thức đã học trong sách giáo khoa" mà đưa thêm kiến thức ngoài vào trong đáp án. Sách giáo khoa (SGK) Văn học 12 hiện hành (sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, hiện sử dụng trong cả nước), phần sự nghiệp văn học Nguyễn Tuân sau Cách mạng, chỉ được khái quát có mấy câu chung chung, đặc biệt không hề nhắc đến một tác phẩm cụ thể nào, nhưng đáp án đã 2 lần dẫn ra một loạt tác phẩm của Nguyễn Tuân, gồm: Tình chiến dịch, Đường vui, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi và Sông Đà, Ký Nguyễn Tuân. Ngoại trừ Sông Đà được SGK nhắc đến trong phần tiểu sử Nguyễn Tuân, thì 4 tác phẩm còn lại không hề được nhắc đến trong SGK. Theo Đáp án và thang điểm, phần sự nghiệp văn học Nguyễn Tuân sau Cách mạng, để được số điểm 0,5, ngoài việc "cần làm rõ những nét chính về tác giả" thì phải dẫn ra được 5 "tác phẩm chính" kể trên. Vậy, người chấm thi sẽ xử lý ra sao đối với những bài thi đúng đáp án nhưng không có trong SGK, và với những bài đúng SGK nhưng không đúng đáp án?

Theo nguyên tắc của lý thuyết làm văn mà học sinh được học và buộc phải tuân thủ, mỗi bài làm văn có 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài. Lẽ ra đáp án và thang điểm của những câu hỏi thuộc dạng yêu cầu viết thành một bài luận như câu II, câu III của cả 2 đề C và D, phải nương theo lý thuyết này để thiết kế lời giải và đưa ra thang điểm cho phù hợp. Đáp án câu II và III của đề C, câu II của đề D, có nêu ý (và có cho điểm) phần mở bài, có các ý (và điểm) của phần thân bài, nhưng hoàn toàn không nêu ý (và không cho điểm) phần kết bài.

Ý thứ 2 của đáp án câu 2 đề C (phân tích bài Chiều tối (Mộ)) viết: "Dù lâm vào cảnh đọa đày, Bác vẫn thể hiện thái độ… đồng cảm và chia sẻ với tạo vật, và thiên nhiên vùng sơn cước lúc chiều buông. Cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) và chòm mây lẻ loi (cô vân) vừa là đối tượng của niềm thương cảm vừa chính là biểu hiện bên ngoài của nỗi buồn trong lòng người tù…". 

Người soạn đáp án chắc chắn phải biết đến câu thơ về nguyên tắc sáng tạo hình ảnh trong thơ của Nguyễn Du: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ chứ? Cảnh trong thơ là cảnh - tình. Cảnh buồn hay cảnh vui là do thi nhân đem tâm trạng buồn vui của mình mà phủ lên cảnh vật. Bản thân cảnh vật với tư cách là đối tượng miêu tả - hiện thực khách quan thì vô tri vô giác, vô tình, vô cảm, độc lập với tư tưởng, tình cảm của thi nhân. Chỉ khi đi vào trong thơ, đã trở thành hình tượng thơ thì, nó mới thấm đẫm tình cảm, tư tưởng của nhà thơ. Cho nên, trong bài Mộ, không phải vì người tù nhìn thấy "Cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) và chòm mây lẻ loi (cô vân)" rồi bày tỏ sự "đồng cảm và chia sẻ với tạo vật, và thiên nhiên", mà ngược lại, vì người tù mỏi mệt, lẻ loi nên cảm thấy tạo vật và thiên nhiên cũng mỏi mệt, lẻ loi như mình. Câu thơ tả cảnh trong bài Mộ là câu thơ tâm cảnh chứ có phải là câu thơ ngoại cảnh đâu! Với cách thẩm thơ của người soạn đáp án, thì câu thơ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang của Xuân Diệu, ta phải hiểu: do cây liễu có tang, nên Xuân Diệu "chia sẻ", chia buồn với cây liễu!

Ngoài ra, hướng dẫn chấm thi tự mâu thuẫn. Nguyên văn câu III, đề C. như sau: "Phân tích hình ảnh thiên nhiên và con người ở phố huyện nghèo lúc chiều tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam (chú ý làm rõ những nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của tác giả)." Với đề thi ấy, Hướng dẫn chấm thi viết như sau: "Yêu cầu được ghi trong ngoặc đơn chỉ là yêu cầu phụ, có lượng điểm tương đối ít. Dù sao đây cũng là một yêu cầu khó, có tác dụng phân loại học sinh". Nhưng khi thi, thí sinh chỉ biết căn cứ vào câu chữ của đề thi để xác định yêu cầu chính, yêu cầu phụ mà làm bài, chứ có ai đứng bên cạnh để hướng dẫn cho rằng đây là yêu cầu chính, kia là yêu cầu phụ đâu. Căn cứ vào văn bản đề và quy tắc ngữ pháp của câu văn thì phần trong ngoặc đơn là phần quan trọng, cần lưu ý làm rõ chứ không thể là "yêu cầu phụ" như trong Hướng dẫn. Hơn nữa, ngay trong lời văn của đề, tại phần trong ngoặc mà Hướng dẫn cho là "yêu cầu phụ" thì, người ra đề đã có cụm từ "chú ý làm rõ" rồi. Đã "chú ý làm rõ" thì làm sao còn xem là "yêu cầu phụ" được nữa? Vậy là, đề thì yêu cầu thí sinh "chú ý làm rõ" nhưng hướng dẫn chấm bài thì lại bảo phần "chú ý làm rõ" "chỉ là yêu cầu phụ."

(Theo Thanh Niên)

 
Kinh nghiệm du học ở Nga
"Mọi thứ ở Nga thực sự không sẵn để chúng ta tận hưởng, mà đôi khi cần rất nhiều nỗ lực để đạt được những mục tiêu của bản thân",
Nam sinh được tuyển dụng dù không có chuyên môn
Không rành công nghệ thông tin và còn thiếu nhiều kỹ năng nhưng Hưng vẫn được tuyển dụng ngay nhờ sự đam mê, nhiệt tình của mình.
Khóa học giúp trẻ tự tin vào lớp một
Chương trình song ngữ Brendon gồm các môn học trang bị hành trang khi trẻ vào tiểu học gồm Toán - tiếng Việt, Kỹ năng sống, Giáo dục thể chất,
GD
Hội thảo du học Singapore cùng Học viện MDIS
Sự kiện mang đến học sinh cách nhìn tổng quan về chương trình học, chất lượng đào tạo, giá trị bằng cấp và định hướng kế hoạch tương lai.