Cảnh báo sóng thần quá chậm
 |
| Ông Nguyễn Ngọc Thủy. Ảnh: Việt Anh. |
Trao đổi với VnExpress, Viện trưởng Viện Vật lý địa cầu Nguyễn Ngọc Thủy cho biết, 21h34 tối 26/12 (tức là 2 giờ sau trận động đất tại Đài Bắc) tại trạm Quy Nhơn đã đo được sóng thần. Cùng thời điểm đó, người dân nhiều địa phương mới nhận được cảnh báo và chuẩn bị sơ tán. Rất may, biên độ sóng thần chỉ cao 0,8 m nên không gây thiệt hại.
- Ông giải thích thế nào trước ý kiến cho rằng, thời điểm bắt đầu đưa ra cảnh báo sóng thần tại VN tối 26/12 quá chậm?
- Trận động đất xảy ra tại Đài Bắc19h34. Ngay khi nhận được fax của Trung tâm cảnh báo sóng thần Tây Thái Bình Dương, Viện Vật lý địa cầu và Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương đã họp bàn. Chúng tôi nhận định trận động đất này mạnh, có thể gây sóng thần.
Nếu có sóng thần với tốc độ 700 km/h thì chỉ 2 giờ sau sóng sẽ vào đến bờ biển Việt Nam. Do đó, việc đưa tin cảnh báo về nguy cơ sóng thần tối 26/12 khá chậm. Khi nhận được thông tin động đất, cán bộ chuyên trách của viện phải mất vài chục phút để xác định liệu trận sóng thần có ảnh hưởng đến Việt Nam hay không. Trong khi, ở Nhật Bản, sau khi xảy ra động đất, các bản tin cảnh báo sóng thần được đưa ra chỉ 6-8 phút sau đó.
Sau đó, phải mất thêm một khoảng thời gian nữa để thống nhất giữa Viện Vật lý Địa cầu và Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương trước khi đưa ra bản tin cảnh báo đầu tiên lúc 21h trên mạng của ngành, sau đó phát trên các phương tiện truyền thông.
- 22h, nhiều người dân vùng ven biển mới tiếp nhận thông tin và sơ tán sau khi sóng thần đã vào VN. Ông nghĩ gì nếu cơn sóng thần tối 26/12 có cường độ lớn?
- Rất may là cơn sóng thần khi vào bờ biển nước ta chỉ ở mức 0,8 m (theo mức đo của trạm thủy văn ở Quy Nhơn) nên không gây nguy hại nhiều đến tính mạng và tài sản của người dân. Giả sử hôm qua xảy ra sóng thần lớn thì thiệt hại sẽ không thể lường hết.
Theo tôi, nếu bản tin sóng thần lúc 21h đến được ngay với tất cả người dân vùng biển thì cũng kịp ứng phó. Đây là lần đầu tiên Việt Nam đưa ra cảnh báo sóng thần nên có nhiều điều cần rút kinh nghiệm. Công tác thông tin đến người dân chậm, việc sơ tán của các địa phương cũng lộ rõ nhiều bất cập.
- Từ trước đến nay khi nói đến sóng thần người ta thường nghĩ đến những con sóng cao vài mét đến hàng chục mét. Trạm Quy Nhơn chỉ đo được biên độ sóng cao 0,8 m, tại sao các chuyên gia lại gọi là sóng thần?
- Sóng thần là sóng nước biển sinh ra do cộng hưởng liên quan đến hoạt động địa chấn dưới đại dương, hay các quá trình địa chất khác như núi lửa phun trào, trượt lở đất đáy biển... Một trận động đất lớn trên 6,5 độ Richter là dấu hiệu cảnh báo tự nhiên về khả năng sóng thần. Trên thực tế, có những đợt sóng thần chỉ cao 0,5 m.
Sóng thần có tốc độ chuyển động cực lớn khoảng 700km/h. Do đó, dù chỉ cao khoảng 1 m cũng có sức tàn phá, va đập mạnh vào tàu thuyền. Tất nhiên, đợt sóng thần tại Việt Nam tối 26/12 thuộc loại nhỏ, mức độ nguy hiểm kém vài trăm lần so với sóng thần tại Indonesia cách đây 2 năm.
- Qua đợt sóng thần vừa qua, ông đánh giá thế nào về nguy cơ xảy ra sóng thần lớn ở VN trong thời gian tới?
- Khả năng xảy ra sóng thần lớn ở Việt Nam là ít. Các trận động đất từ 6,5 độ Richter trở lên có thể gây ra sóng thần. Trong khi, Việt Nam có khả năng xảy ra những trận động đất mạnh từ 6,5 đến hơn 7 độ Richter. Năm 1983 tại Tuần Giáo (Lai Châu) đã có động đất mạnh 6,7 độ Richter. Năm 2001 tại Điện Biên cũng có động đất làm hư hại hàng nghìn nóc nhà.
Ngoài ra, các trận động đất mạnh gây ra sóng thần ở Tây Bắc Philippines cũng sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam. Theo tính toán nếu sóng thần xảy ra tại đây thì khoảng 1 giờ 30 đến 2 giờ là đến bờ biển của Việt Nam. Nếu động đất gây sóng thần xảy ra ở Philippines sẽ mạnh và nguy hiểm hơn là những trận động đất gây sóng thần xảy ra ở bờ biển nước ta.
- Khi nào khả năng cảnh báo động đất, sóng thần của Việt Nam mới được cải thiện?
- Quý I/2007 chúng ta sẽ xây dựng xong hệ thống cảnh báo sóng thần ở Việt Nam. Hiện nay chúng ta đã có mạng lưới 25 trạm địa chấn, phần lớn các trạm này nằm ở khu vực phía Bắc. Khu vực phía Nam chỉ có 3 trạm ở các vùng là Huế, Đà Lạt và Nha Trang. Dự kiến đến năm 2008 chúng tôi sẽ tiếp tục xây thêm 10 trạm nữa với sự tài trợ không hoàn lại của Nhật Bản. Khi dự án này hoàn thành chúng ta sẽ đủ khả năng để cảnh báo động đất gây sóng thần ở các bờ biển của nước ta.
- Trận động đất ngày hôm qua xảy ra đúng dịp các quốc gia kỷ niệm 2 năm xảy ra trận động đất kinh hoàng tại Indonesia và một số quốc gia khu vực Nam Á. Ông nghĩ gì về chu kỳ giữa các trận động đất gây sóng thần?
- Đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Các trận động đất mạnh gây sóng thần trên thế giới nói chung không có chu kỳ hay có liên hệ giữa vùng này hay vùng khác. Khi xảy ra động đất mạnh ở ven biển Việt Nam, người dân sẽ bị giật mình và đứng không vững. Cách ứng phó dễ dàng nhất là họ nên chạy ngay tới vùng có địa hình cao.
|
Phần lớn sóng thần sinh ra do các trận động đất lớn, có tâm nông (nhỏ hơn 100 km trong vỏ trái đất). Theo thống kê trên thế giới trong 2.000 năm qua, động đất là nguyên nhân của 82,3% số cơn sóng thần ở vùng Thái Bình Dương. Tuy nhiên, động đất đủ mạnh để gây ra sóng thần là rất ít.
Từ năm 1861 đến 1948 có trên 15.000 trận động đất, nhưng chỉ gây ra 124 cơn sóng thần. 2/3 số sóng thần gây thiệt hại ở vùng Thái Bình Dương liên quan với động đất có cường độ lớn hơn hoặc bằng 7,5 độ richter. Phần lớn những trận động đất này ảnh hưởng đến khu vực địa phương và cả những bờ biển cách đó rất xa. |
Việt Anh thực hiện