|
||
![]() |
||
|
Lao động ở Malaysia: Tiền công không đủ nộp thuế
Nhiều công nhân xuất khẩu lao động ở nước này có thu nhập khoảng 600 ringgit/tháng, chỉ đủ để đóng thuế lao động, tiền dụng cụ lao động. Tháng ít việc, tiền họ kiếm được chẳng đủ nộp cho công ty nên bị ép về nước với hai bàn tay trắng. Được Công ty Vifortour (thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) đưa đi Malaysia tháng 9/2003, 42 lao động đến làm việc tại một công trường ở Johor (Malaysia). Ba tháng đầu, thời gian làm việc trung bình mỗi tháng 220 giờ/người, với 3,175 RM/g, tổng thu nhập trên 600 RM/người (tương đương 2,4 triệu đồng/ người). Theo hợp đồng, mỗi lao động phải trừ 220 RM/tháng thuế Malaysia (thu trong sáu tháng liên tục) và phí dịch vụ 50 RM/tháng (đóng liên tục 17 tháng). Như vậy, riêng tiền thuế lao động đã hết 50% thu nhập, cả dụng cụ lao động trong tháng đầu tiên cũng phải đóng cho chủ: 198 RM/người (hợp đồng ghi miễn phí), cộng với tiền ăn, sinh hoạt phí, còn lại chỉ hơn 100 RM/người/tháng (400.000-500.000 đồng). Vào những tháng mưa công trường tạm ngưng, công nhân không có việc thì tiền công chỉ còn 170-196 RM/tháng/người, không đủ số tiền đóng thuế và tiền dịch vụ. Làm việc cật lực và kiên nhẫn, họ hy vọng gom góp tất cả số tiền làm được (ngày có bù ngày không) trong sáu tháng để đóng đủ thuế cho cả năm. Từ tháng thứ bảy họ sẽ dành dụm số tiền làm được, nhưng phía công ty tiếp tục ép đóng thuế cho năm thứ hai, nếu không sẽ phải về nước. Ngày công không đủ nộp thuế, họ liên tục cầu cứu Vifortour nhưng không được giải quyết, 2-3 tháng làm việc không lương, họ phải ký vào tờ giấy vay nợ của công ty Malaysia để được mua vé máy bay về VN. Không một đồng xu dính túi, tất cả anh em cùng cảnh gom góp tiền cho một số lao động về trước để cầu cứu cơ quan chức năng . Nhưng khi về đến nhà gặp Công ty Vifortour, giám đốc lại yêu cầu lao động phải làm giấy cam kết về nước trước thời hạn với lý do: sức khỏe không tốt cho công việc ngoài trời, giấy vay (thậm chí có giấy chỉ nguệch ngoạc không ngày tháng). Nguyễn Sĩ Bình, một trong số 42 công nhân, nói: “Về đến nơi, không làm giấy thì giám đốc không cho nhận số tiền phí đóng trước 3.216.000 đồng/người”. Bà Dương Khánh Hương (giám đốc Công ty Vifortour) cho rằng: “Không ai làm không cái gì bao giờ. Lao động đi gần như miễn phí... thì may nhờ rủi chịu”. Vị này cũng thừa nhận Vifortour đã thu các khoản của người lao động gồm: 950 USD/người và 950.000 đồng (học phí học tiếng Anh 5-10 ngày và đồng phục: một áo vải, một giày vải và mũ vải). Trong đó chỉ có một phiếu thu 3.216.000 đồng cho khoản phí dịch vụ, các khoản khác không hề có phiếu thu. Theo mặt bằng giá, các đơn vị dịch vụ xuất khẩu lao động thị trường Malaysia thu 900-950 USD/người bao gồm: 350 USD tiền môi giới, 250 USD tiền vé máy bay lượt đi, số còn lại là các dạng phí trong đó có phí dịch vụ ba năm của đơn vị xuất khẩu lao động. Ở đây Vifortour đã thu đủ các khoản phí rồi lại thu tiếp 50 RM/người/tháng, tạo thêm gánh nặng cho người lao động, đẩy lao động vào cảnh làm thuê không đủ thuế. Vifortour có chức năng xuất khẩu lao động nhưng đã bị tạm đình chỉ năm 2003. 42 lao động này được “ký gửi” qua Công ty Haindeco (chi nhánh Công ty Phát triển công nghiệp Hà Tĩnh). Bà Trần Thị Thanh (giám đốc Haindeco) cho rằng: “Với tư cách là bạn bè và đồng nghiệp, Haindeco xuất khẩu giúp số lao động này và chịu trách nhiệm thanh lý hợp đồng lao động”. Lê Ngọc Đông, Đàm Văn Khoa, Ngô Văn Chi và Nguyễn Văn Thuận được Công ty Dịch vụ du lịch dầu khí (Petrosetco) đưa đi Malaysia vào ngày 7/8/2002, hợp đồng ba năm (có thể gia hạn thêm hai năm) làm công nhân nhà máy. Nhưng đến tháng 4/2004, 17 lao động do Petrosetco đưa đi Malaysia có quyết định về nước làm hai đợt (tháng 4 và tháng 6), trước thời hạn 14-16 tháng. Chỉ có phía Malaysia bồi thường một tháng lương cơ bản và chi phí đi về, còn công ty VN đưa đi chỉ thanh toán khoản phí lao động đã đóng, không có thêm hình thức hỗ trợ nào. Trong quá trình lao động, thu nhập chỉ đạt trung bình 620 - 650 RM/người/tháng (bao gồm tiền chuyên cần và phụ cấp tiền ăn). Làm một bài toán nhỏ: thuế Malaysia 100 RM/người/tháng, tiền dịch vụ 10% lương cơ bản... là những khoản tiền bắt buộc phải đóng, cộng với tiền ăn 100 RM/người/tháng, tiền điện nước và tiêu vặt... là 20-30 RM/người/tháng, số tiền thu nhập còn lại chỉ 187 - 200 RM/người/tháng (600.000 - 800.000 đồng). Lao động bức xúc: “Chịu thuế như vậy với mong muốn thực hiện hết hợp đồng may ra tích lũy được gì. Khi ký kết mỗi bên đều phải chịu trách nhiệm tất cả thiệt hại nếu vi phạm hợp đồng. Song phía công ty đơn phương đưa chúng tôi về nước thì chỉ giải quyết những khoản tiền mà lao động đã đóng là xong. Hầu hết đều bị ép làm những đơn từ không theo ý muốn để hợp thức những thủ tục mà doanh nghiệp cần”. Ngoài việc truy thu các loại thuế, một số đơn vị còn làm giấy tay bắt thân nhân lao động cam kết thực hiện đúng hợp đồng, nếu không phải chịu phạt 25- 40 triệu đồng/người (ngoài các khoản phí đã đóng). Một chuyên gia về thị trường Malaysia phân tích: với khoản chi phí 900-950 USD/người, thu nhập tối thiểu người lao động đảm bảo theo qui định của nhà nước không dưới 18 RM/người/ngày, trong vòng ba năm lao động có thể tích lũy được 60-70 triệu đồng khi trừ xong các khoản phí. Tuy nhiên viễn cảnh trên chỉ là lý thuyết. Thực tế những hợp đồng bị vỡ hầu hết do giá ngày công không đảm bảo, thấp hơn mức qui định tối thiểu. Đó là chưa kể khi vỡ hợp đồng, doanh nghiệp bằng mọi cách đổ lỗi cho lao động để các khoản phí về nước người lao động tự lo, nếu lỗi do người sử dụng lao động thì đơn vị xuất khẩu lao động cũng coi như vô can. Trong trường hợp bất khả kháng (thiên tai, nhà máy phá sản), hai bên cùng thương thảo, chia sẻ rủi ro, nhưng kiểu gì thì lao động vẫn là người yếu thế. Nhiều trường hợp bị chia nhỏ đưa về nước, thậm chí không thanh lý hợp đồng ngay mà trì hoãn kéo dài thời gian, lao động chờ đợi mệt mỏi, nhận được chi phí vài triệu đồng rồi lặng lẽ về quê. (Theo Tuổi Trẻ)
- [Trở về]
|
||
| MENU | ||
Về đầu trang ![]() |
||
|
, |