Cuộc đối đầu SCO - IBM bao giờ đến hồi kết?
Big Blue vừa yêu cầu tòa án liên bang Mỹ bãi miễn những cáo buộc về bản quyền mà SCO nhắm vào họ. Sau một năm trời đấu tranh căng thẳng trên mặt trận pháp lý, xoay quanh quyền sở hữu mã hệ điều hành Unix, mớ bòng bong giữa hai bên vẫn chưa hề có một nút gỡ.
IBM phản công lại SCO bằng cách đệ đơn lên một tòa án ở Salt Lake City, hòng tìm kiếm một phán quyết có lợi cho mình giống như Red Hat đã làm khi đối phó với một đơn kiện khác cũng của SCO đưa ra. IBM muốn tòa án ra một quyết định có tính làm rõ, trong đó phải nhấn mạnh rằng họ “không vi phạm, khuyến khích và hỗ trợ việc xâm phạm” bất cứ bản quyền nào của SCO thông qua các hoạt động phân phối Linux của mình, trong đó có việc sử dụng, tái sản xuất và nâng cấp hệ điều hành này. Phán quyết đó cũng đồng thời phải chỉ rõ một phần hoặc tất cả những yêu sách về bản quyền của SCO đối với Unix là vô giá trị và không thể thực thi.
Điều này có nghĩa là IBM đã coi đây là một cuộc chiến thực sự chứ không còn là tranh chấp hợp đồng nữa. Trong khi đó, SCO vẫn sẽ phải tiếp tục chứng minh được hiện nay họ mới là chủ sở hữu những bản quyền liên quan trong vụ kiện với IBM, bất kể kết luận của tòa án có như thế nào đối những vụ tranh chấp giữa SCO với các công ty khác.
Sự liên quan của nhiều đối tượng trong vụ kiện của SCO hiện nay cũng chưa rõ ràng. Giới quan sát cho rằng thậm chí nếu tòa án chấp nhận yêu cầu của IBM và đưa ra một phán quyết có tính phân định rõ ràng thì SCO cũng vẫn có thể lôi những công ty khác ra để “xử lý”, giống như đối với hãng AutoZone và nhà sản xuất ôtô DaimlerChrysle, với lý do là những hồ sơ này không liên quan gì đến vụ IBM.
Trong khi đó, IBM mới đây đã rút lại một đơn kiện cáo buộc SCO ăn cắp một trong những sáng chế của họ, theo đúng yêu cầu của SCO là vấn đề này phải được chia thành một vụ riêng.
Những dấu mốc trong vụ kiện của SCO:
1979: SCO ra đời tại Santa Cruz, California (Mỹ) với danh nghĩa một công ty tư vấn về Unix.
1995: SCO mua lại nguồn AT&T Unix từ hãng Novell.
2001: SCO bán đơn vị phụ trách công nghệ Unix và dịch vụ kinh doanh. Bộ phận còn lại của SCO trở thành Tarantella.
8/2002: Caldera International, tập đoàn mẹ của Tarantella, đổi lại tên công ty này thành SCO Group.
7/2003: SCO khởi kiện IBM với lời cáo buộc rằng sáng chế của họ đã bị sử dụng trong Linux do Big Blue phát triển.
14/5/2003: SCO cảnh cáo người sử dụng Linux về tội danh xâm phạm mã nguồn bất hợp pháp.
18/5/2003: Microsoft chấp nhận quyền sáng chế và mã nguồn của SCO.
17/6/2003: SCO nâng mức tiền đòi IBM bồi thường từ 1 tỷ lên 3 tỷ USD.
16/10/2003: SCO nhận được 50 triệu USD tài trợ của Baystar.
3/3/2004:
- SCO kiện công ty ôtô DaimlerChrysler vì hãng này không chứng nhận việc sử dụng mã của SCO khi cài đặt Linux.
- Microsoft bị phát hiện dính líu vào việc Baystar “bơm” tiền cho SCO tranh kiện.
Một số thuật ngữ liên quan đến mã nguồn mở:
1. Mã nguồn mở (Open source): Là những chỉ lệnh do các lập trình viên máy tính viết ra và được công bố để có thể tải qua Internet. Nhiều lập trình viên phối hợp với nhau và tạo ra những “dự án” mã nguồn mở với mục đích cùng nhau chế tạo các ứng dụng. Những đơn vị đóng góp vào một dự án và người sử dụng phần mềm của họ hình thành nên cái gọi là “cộng đồng mã mở”. Mã nguồn mở có thể gắn liền với quyền sử dụng của nhiều đối tượng khác nhau.
2. Phần mềm tự do (Free software hay Freedom software): Đây là những chương trình mã mở mà bất cứ ai cũng có thể chỉnh sửa hoặc tái phân phối. Cái gọi là giấy phép (licence), có tính hạn chế sự tự do này, thực ra chỉ là những yêu cầu từ đơn giản và thoải mái như “Bạn có thể bán mã tự do này” cho đến những giấy phép có tính ràng buộc hơn như “Bạn không được bán nó và phải tái công bố bất cứ thay đổi nào mà bạn đã tạo ra để những người khác có thể được hưởng lợi từ công việc của bạn một cách miễn phí, giống như bạn hưởng lợi từ những gì mà họ làm”.
3. Unix: Là một loại hệ điều hành máy chủ rất phổ biến, được sử dụng tại nhiều công ty lớn. Bắt nguồn từ Trung tâm nghiên cứu Bell Labs, California (Mỹ) năm 1969, thế giới Unix đang dần bị các nhà cung cấp phân chia thành nhiều nhánh với trên 300 kiểu dạng tương thích khác nhau. Hiện nay, chỉ còn lại một số ít đơn vị phát triển Unix, trong đó có Sun, HP, IBM và SCO.
4. Linux: Là một hệ điều hành giống như Unix, kết hợp một số dự án mã mở khác nhau, trong đó 2 dự án đáng chú ý nhất là lõi Linux (kernel) của Linus Torvalds và các chức năng hệ điều hành bậc cao GNU do Richard Stallman khởi xướng. Linux còn được bổ sung bằng rất nhiều dự án khác, tạo nên cái gọi là “các kênh phân phối” Linux. Ví dụ, kênh Red Hat nhắm vào người sử dụng là các doanh nghiệp trong khi kênh Mandrake chủ yếu tập trung phục vụ gia đình và văn phòng nhỏ. Một số đối tượng khác phục vụ lập trình viên và các ISP.
5. GPL (General Public Licence): Giấy phép sử dụng đại chúng là một công cụ pháp lý dùng để điều chỉnh việc phân phối và sử dụng hầu hết phần mềm tự do trên thế giới. Nói theo nghĩa rộng, GPL dựa vào khái niệm bản quyền (copy rights) để đảm bảo rằng những biến thể của một chương trình gốc luôn luôn phải được tái phân phối với một sự tự do tương tự như khi bản gốc được cung cấp. Khái niệm này được gọi là “bản sao dư” (copy - left). Bản quyền kiểu này quy định tính chất tự do thông suốt và hàm chứa một yêu cầu là tất cả mọi người sử dụng đều có thể tiếp cận mã phần mềm, bất kể chi phí phát triển ra nó có là bao nhiêu. Theo nguyên tắc GPL, đơn vị phát triển ứng dụng chỉ được bồi thường chi phí phân phối, tức là chi phí đĩa CD hoặc bưu phí.
6. Chuẩn mở (Open standards): là những định nghĩa chung về phương thức hoạt động cho computer, được xác lập để đảm bảo các hệ thống thuộc nhiều loại vẫn hoạt động cùng nhau một cách hiệu quả. Chuẩn mở do các tổ chức chuẩn thiết lập. Thành viên của những tổ chức này đại diện cho các quyền lợi khác nhau trong ngành công nghiệp phần mềm mã mở. Mục đích của nó là đảm bảo sự chấp nhận rộng rãi và khả năng tương thích cao giữa các sản phẩm khác nhau. Ví dụ, nhờ vai trò của Tổ chức chuẩn web quốc tế (W3C) mà nhiều trình duyệt (browser) hiện nay có thể truy cập các trang web từ hàng trăm mô hình máy chủ web khác nhau.
7. Chuẩn độc quyền (Proprietary standards): là những định nghĩa về phương thức hoạt động cho computer do các công ty công nghệ sở hữu nhưng không phải lúc nào cũng được họ công bố. Với sự xuất hiện của Internet, nhiều chuẩn độc quyền đã biến mất, chẳng hạn như các giao thức mạng của Novell hay giao thức e-mail của Microsoft. Những chuẩn có tính kiểm soát, ảnh hưởng đến nhiều ứng dụng, thường đem lại cho các công ty công nghệ một ưu thế nhất định so với các đối thủ cạnh tranh. Do đó, bản quyền sáng chế (patent) phần mềm đôi khi được những công ty này sử dụng để nắm bắt những quy trình và phát minh mới phát sinh hoặc liên quan đến việc thực hiện và áp dụng các chuẩn.
Phan Khương