Thứ ba, 16/3/2004, 11:58 GMT+7

Tin học hóa bệnh viện ở VN - vạn sự khởi đầu nan

Triển lãm ứng dụng CNTT trong y học của Học viện Quân y.
Ảnh: Anh Tuấn

Mục tiêu của Việt Nam là đến năm 2005, hơn 800 bệnh viện trên toàn quốc sẽ được triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nối mạng với Bộ Y tế. Dù không dễ thực hiện và đã có những thất bại, nhiều đơn vị vẫn kiên trì đưa tin học vào chuyên môn để có được nhiều tiện ích trong công việc.

Chị Thủy, quản trị mạng của Bệnh viện Bưu điện, nhận định: "Có công nghệ giúp sức, chúng tôi không phải mất nhiều thời gian để thống kê sổ sách giấy tờ nữa. Máy tính đã giúp giảm thiểu việc viết lách và quản lý chặt chẽ hồ sơ, tài liệu. Người bệnh đến đây cũng yên tâm và đỡ vất vả hơn vì việc làm thủ tục không còn lâu và rắc rối như trước".

Theo tiến sĩ Nguyễn Viết Lượng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Viện Bỏng Quốc gia, tin học đã giúp các bác sĩ thuận tiện hơn trong khám, chữa bệnh, nhất là kê đơn thuốc. Mọi dữ liệu về thuốc (loại gì, dành cho bệnh nào, số lượng hiện có tại bệnh viện...) đều lưu trong máy tính nên tránh được tình trạng kê đơn không an toàn, bất hợp lý... Bên cạnh đó, việc quản lý về tài chính cũng chặt chẽ hơn, tránh tình trạng thất thu hoặc không thể kiểm soát. "Viện Bỏng mang đặc thù là có nhiều chế độ miễn giảm. Trước đây chúng tôi quản lý chi tiêu cho vấn đề này rất khó, giờ thì đã khác", ông nói. 

Tuy nhiên, theo ông Lượng, cái được lớn nhất không phải là vấn đề tài chính mà là tác phong làm việc của cán bộ và nhân viên trong viện đã thay đổi nhờ được nâng cao về trình độ tin học và tiếng Anh. Ông tâm sự: "Chúng tôi đã phải cố gắng rất nhiều vì ban đầu, hầu hết mọi người đều ngại, thậm chí còn phản đối quyết liệt vì ngoài chuyên môn, họ không muốn mất thời gian cho việc khác, dù sự thay đổi có mang lại nhiều tiện ích". Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến việc áp dụng CNTT vào các bệnh viện gặp trở ngại, thậm chí không thành công. Nắm được vấn đề này, trước khi đầu tư cho hệ thống, Viện Bỏng đã chủ trương dành hẳn 1 năm đầu để đào tạo cho nhân viên kiến thức về mạng.

Một nguyên nhân khác khiến một số bệnh viện không thành công trong việc xây dựng hệ thống quản lý điện tử là chương trình họ sử dụng không thích hợp. Nhiều công ty được thuê để viết phần mềm cho ngành y tế, nhưng không hiểu chuyên môn hoặc thu thập thông tin đầu vào thiếu, nên khi đưa vào ứng dụng không đạt hiệu quả. Nhiều trường hợp còn đem chương trình của mô hình khác, thay đổi chút ít, rồi cứ thế đưa vào áp dụng cho ngành y tế. Hậu quả là thay vì phát huy ưu điểm, những sản phẩm kiểu này thậm chí còn làm đảo lộn hoạt động của đơn vị.

Sau nhiều khảo sát, Viện Bỏng đã rút ra kinh nghiệm "phải là chuyên gia trong lĩnh vực của chính mình" nên đã không "giao khoán" cho đơn vị làm phần mềm. Họ tự thiết kế ý tưởng, sau đó cùng các chuyên gia tính toán đến từng chi tiết nhỏ nhất. Hiện tại, viện cũng tự làm công việc quản trị mạng và chỉ ký hợp đồng với một công ty bảo trì định kỳ phần cứng.

Chị Thủy cho biết, với 2 máy chủ và khoảng 40 máy trạm cho 7 phân hệ làm việc (đón tiếp, khám bệnh, cận lâm sàng, điều trị, quản lý thuốc và vật tư, thanh toán, admin), hệ thống của bệnh viện Bưu điện hiện chạy tương đối ổn định. Thời gian đầu cũng có nhiều lỗi, chủ yếu là do người sử dụng chưa quen gây ra. Tại Viện Bỏng, 6 tháng đầu khi mới vận hành cũng gặp một số trục trặc nhỏ. Chẳng hạn như việc số lượng thuốc trong kho được kiểm soát trên máy tính, mỗi lần bác sĩ gõ một lệnh xuất thuốc theo đơn, máy sẽ tự trừ đi. Nhưng do chưa quen, bác sĩ lại ra nhiều lệnh cho một đơn, kết quả là máy tính báo hết trong khi số thuốc thực tại kho vẫn còn. Lỗi này được các chuyên gia của AIT, công ty chịu trách nhiệm làm phần mềm, khắc phục bằng một hệ thống kiểm soát tự động định kỳ và cài chương trình cảnh báo để bác sĩ chỉ được phép cho đơn thuốc một lần.

AIT hiện là đơn vị có nhiều ứng dụng thành công trong ngành y tế. Cung Phi Hùng, Giám đốc công ty, từng có 15 năm hoạt động trong ngành y tế. Có lẽ đây là yếu tố để AIT dễ dàng tìm các giải pháp quản lý điện tử tại các bệnh viện. Ông Hùng cũng cho rằng khó khăn lớn nhất đối với người làm phần mềm là không có nghiệp vụ chuyên môn về y học, trong khi đó là mô hình khép kín và rất phức tạp. "Kinh nghiệm của chúng tôi là với mô hình càng to, cấu trúc cơ sở dữ liệu càng lớn thì cần phải có giải pháp về tốc độ thích hợp", ông Hùng tiết lộ.

Hiện, AIT đã có phiên bản thứ 5 phần mềm quản lý bệnh viện sau 5 năm hoạt động trong lĩnh vực này với mỗi version là một sự cải tiến. Bản mới nhất sử dụng cơ sở dữ liệu của Oracle, dùng hoàn toàn font Unicode, có thể tích hợp toàn bộ hệ thống với nhau và tốc độ nhanh gấp 2-3 lần bản trước đó. Công ty này cũng đang thực hiện hợp đồng với Sở Y tế Hà Nội, Viện Y học cổ truyền Việt Nam, bệnh viện Bạch Mai... Viện 354 cũng đang lên kế hoạch hợp tác với AIT để xây dựng chương trình riêng.

Nguyễn Hằng

Link Site
 
Những clip 'hot' nhất trên Internet
iPhone 5iPhone 4S
 
 
 
 
 
 
Lien he quang cao