Thứ bảy, 6/9/2003, 09:30 GMT+7

Nhà nước cần tiên phong sử dụng phần mềm hợp pháp

 

Đó là ý kiến chung tại hội thảo Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm lần thứ nhất, diễn ra ở Hà Nội, hôm qua. Sự kiện này thu hút khoảng 50 đại biểu, do Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm VN và Công ty Microsoft tổ chức.

Theo khảo sát của Liên minh phần mềm thương mại (BSA), Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ vi phạm bản quyền cao nhất thế giới - 95%, trong số đó doanh nghiệp nhà nước vi phạm chiếm 99%. Giải thích cho vấn đề này, nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân chính là mức sống ở Việt Nam còn thấp mà giá sản phẩm chính hiệu như Windows lại quá cao, sản phẩm dễ dàng bị sao chép và có vòng đời thấp. Hơn nữa, đến nay, Nhà nước chưa có văn bản nào chỉ đạo cơ quan nhà nước sử dụng phần mềm có bản quyền, các cơ quan pháp luật cũng chưa có biện pháp mạnh tay để xử lý triệt để tình trạng này.

Tác hại của vi phạm bản quyền làm ngành công nghệ địa phương bị tổn thất tới 49 triệu USD mỗi năm, cản trở sự đầu tư nước ngoài. Nó cũng ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình đổi mới và tái đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm.

Ông Hà Thân, Giám đốc Công ty Lạc Việt, cho biết nếu công ty bán được khoảng 10.000 sản phẩm (300.000 đồng/bản), con số phần mềm sao chép lậu sẽ lên gần 500.000 bản với giá chỉ 10.000 đồng/bản. "Việt Nam có 1,5 triệu máy tính thì chỉ có khoảng 5% trong số này sử dụng sản phẩm của hãng, còn 95% máy dùng sản phẩm bất hợp pháp. Ngoài Công ty máy tính Đồng Nai, đa số những hãng lắp ráp máy tính khác trong nước đều dùng phần mềm chùa", ông nói.

Mỗi năm, Lạc Việt đều nộp thuế vài tỷ đồng cho Nhà nước, nhưng không thu được bao nhiêu từ những dự án đầu tư phát triển công nghệ phần mềm của Nhà nước. "Chúng tôi mong muốn các cơ quan, doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn hơn về việc tuân thủ luật bản quyền. Nhà nước cần phải đi đầu, tạo thói quen mua phần mềm hợp pháp”, ông Thân nhấn mạnh.

Tại hội thảo, một đại biểu cũng nêu ý kiến nên khuyến khích sử dụng phần mềm nguồn mở trong những lĩnh vực khả thi và có hiệu quả cao, giảm nhập khẩu phần mềm khi đã có sản phẩm nguồn mở tương đương, nhằm hạn chế tình trạng sao chép bất hợp pháp xuống ngang mức trung bình trong khu vực. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay là đa số phần mềm nguồn mở ở Việt Nam lại vẫn lấy mã nguồn mở có sẵn của thế giới rồi Việt hoá nhưng không rõ nguồn gốc là của ai, phiên bản nào, thậm chí từ sản phẩm mở, xây dựng lại thành phần mềm đóng gói của riêng mình mà vẫn nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước.

Một số chuyên gia khác cũng lên tiếng cảnh báo rằng, tham vọng đạt 500 triệu USD doanh thu phần mềm vào năm 2005 sẽ không thực hiện được, nếu Nhà nước không mạnh tay dập tắt nạn ăn cắp bản quyền. Đó là chưa kể đến việc kinh tế Việt Nam không thể phát triển và có thể bị trừng phạt nếu không tôn trọng các cam kết quốc tế khi gia nhập AFTA, WTO. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng để thực hiện hiệu quả vấn đề này thì trước hết chính các doanh nghiệp phần mềm phải tôn trọng sản phẩm của nhau, bởi chỉ có chuyên gia về phần mềm mới bẻ khoá được, còn trình độ tin học của các công chức Nhà nước chỉ ở mức abc thì khó có thể làm được điều này. Hơn nữa, việc bẻ khóa đa số được thực hiện ở nước ngoài, nên cũng không thể đổ lỗi cho người sử dụng.

Các chuyên gia CNTT của Mỹ, Ấn Độ sang làm việc tại VN đều chung quan điểm: Có 3 điều kiện cơ bản để phát triển công nghiệp phần mềm VN là nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng kỹ thuật (Internet) và luật chống ăn cắp bản quyền. Nhưng VN mới đáp ứng được phần nào hai điều kiện đầu, còn điều kiện thứ ba thì... quá mờ mịt.

Ở Trung Quốc và Ấn Độ, tình trạng sao chép tuy vẫn tràn lan, song đã có một hệ thống pháp lý cơ bản cho bản quyền phần mềm và có nhiều vụ xử điển hình đối với những kẻ vi phạm. Còn hiện tại ở VN, dù đã có một hệ thống pháp luật về bản quyền, sở hữu công nghiệp, thực chất chưa phải dành cho công nghiệp phần mềm. Ông Đào Anh Tuấn, Văn phòng Luật sư Phạm và Liên danh, phát biểu: "Bộ mã nguồn phần mềm là gì? Bộ luật Dân sự chưa quy định. Cho nên luật còn bỏ ngỏ câu hỏi: Các chương trình làm từ bộ mã nguồn ăn cắp thì có gọi là vi phạm không?”. Theo ông Tuấn, những văn bản pháp luật liên quan đến bản quyền đưa ra các khái niệm, định nghĩa về phần mềm còn sơ sài. Đến nay cũng chưa có quy định cho và không cho phép sao chép phần mềm sử dụng trong từng lĩnh vực cụ thể với mục đích khác nhau... Một phần mềm được bảo hộ hiện phải "xài ké" mỗi chỗ một chút từ hệ thống văn bản pháp luật trên.

Đại diện Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Bưu chính Viễn thông thống nhất trong thời gian tới, Chính phủ và các hiệp hội, doanh nghiệp sẽ hợp tác tìm hiểu tận gốc tình trạng vi phạm bản quyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội trong đó lãnh đạo Nhà nước phải có quan điểm rõ ràng và quyết tâm ủng hộ những hoạt động bảo vệ bản quyền, xây dựng và tôn trọng thương hiệu phần mềm Việt Nam, khen thưởng động viên đối với các cơ quan tổ chức thực hiện nghiêm túc luật bản quyền... Đồng thời sẽ thành lập một hệ thống quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ thống nhất. “Khi xây dựng những chính sách, khung pháp lý, cần có sự tham gia của đại diện doanh nghiệp hoạt động về phần mềm, người làm luật và chính khách hàng sử dụng. Chúng ta cũng nên học tập kinh nghiệm của các nước đi trước như Ấn Độ”, ông Tuấn phát biểu.

Những người tham dự hội thảo hy vọng các giải pháp đưa ra có thể giúp Việt Nam giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm xuống còn 75% vào năm 2010 và 50% vào 2013.

Minh Nghĩa

Link Site
 
Những clip 'hot' nhất trên Internet
iPhone 5iPhone 4S
 
 
 
 
 
 
Lien he quang cao