Những người đặt viên gạch đầu tiên cho Internet Việt Nam
 |
|
Ông Rob Hurle, người đặt viên gạch đầu tiên cho Internet Việt Nam. |
Internet đặt chân đến Việt Nam phần nào nhờ vào sự tình cờ, nói đúng hơn là nhờ có sự nhiệt tình và tâm huyết của ông Rob Hurle cũng như các đồng nghiệp tại Đại học Quốc gia Australia.
Bữa ăn tối gặp mặt giữa những người từng tham gia đặt nền móng cho việc kết nối Internet tại Việt Nam được tổ chức đơn giản mà thân mật tại một quán ăn trên phố Giảng Võ, Hà Nội, một ngày đầu tháng 3. Khi đó, ông Rob Hurle cùng vợ, bà Clare Martin, quay trở lại Việt Nam để nghiên cứu lịch sử một số nước châu Á. Sau vài lần cụng bia, chúc mừng hội ngộ, câu chuyện về sự ra đời của Internet tại Việt Nam được ôn lại, bắt đầu từ...
Gần 10 năm trước...
Sau khi cùng vợ nghiên cứu lịch sử Indonesia, ông Rob muốn có một điều gì đó mới và ý tưởng đến Việt Nam xuất hiện. Tới Việt Nam năm 1992, trước đó họ đã đến thăm một số sinh viên công nghệ thông tin (CNTT) của Việt Nam từng nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Australia. Có lẽ điều khiến ông Rob lưu ý nhất trong những cuộc gặp gỡ là sinh viên Việt Nam rất có nhu cầu được tiếp cận Internet.
Khi còn học tại Đại học Quốc gia Australia, những sinh viên này sử dụng máy tính lớn để nghiên cứu, nhưng khi về nước, công việc của họ phải dừng lại. Điều này kích thích ông Rob tiến hành thử nghiệm kết nối. Khi về Australia, ông đã ghép nối một máy chủ với dây dẫn và thử quay số kết nối tới Việt Nam, ông thấy nó hoạt động và những người sử dụng máy tính tại đầu dây ở Hà Nội có thể truy cập vào các máy tính lớn ở Australia.
Trước khi nhóm nghiên cứu của ông Trần Bá Thái tại Viện CNTT Việt Nam bắt tay cùng ông Rob tiến hành thử nghiệm kết nối, Viện cũng từng nỗ lực thiết lập kết nối Internet với các trường đại học châu Âu, nhưng không thu được kết quả nào.
Cuối năm 1992, một account mang tên hanoi@coombs.anu.edu.au được tạo ra tại Trung tâm tính toán của Đại học Quốc gia Australia (CCU), nơi có rất nhiều nhóm nghiên cứu về CNTT, trong đó Rob Hurle phụ trách một nhóm.
Công việc "quá cảnh" cho các e-mail được tiến hành mỗi khi đường dây điện thoại được kết nối giữa Viện CNTT và Đại học Quốc gia Australia. Mọi cuộc gọi đều được thanh toán tại đầu dây ở Australia vì cước viễn thông tại Việt Nam đắt hơn nhiều lần. Đơn vị thanh toán hóa đơn điện thoại này là Đại học Quốc gia Australia. Về sau, khi mạng VARENet ra đời, người sử dụng dịch vụ e-mail tại Việt Nam phải nộp phí, và khoản tiền đó được gửi trả lại Australia. Những người phụ trách giữa hai đầu kết nối là Rob Hurle và Trần Bá Thái. Khi e-mail được gửi tới máy chủ tại CCU, họ đã phải tiếp nhận, phân loại và đẩy những bức thư đó tới Việt Nam qua đường kết nối điện thoại dial-up. Tại Viện CNTT, Trần Bá Thái lặp lại quá trình tương tự.
Chu trình hoạt động bán thủ công này diễn ra một thời gian cho tới tháng 9/1993, khi Công ty viễn thông Telstra của Australia để ý đến hoạt động này và tổ chức một cuộc hội thảo về kết nối máy tính tại Hà Nội. Kết quả của cuộc hội thảo, với sự có mặt của ông Rob, là quá trình kết nối được tự động hóa nhờ sử dụng các giao thức UUCP (Unix to Unix Copy). Giao thức UUCP tỏ ra rất hữu hiệu và mạnh, đặc biệt khi ứng dụng trên nền tảng cơ sở hạ tầng viễn thông yếu của Việt Nam lúc bấy giờ. Đồng thời, việc triển khai chỉ đòi hỏi chi phí thấp và dễ dàng thực hiện.
Năm 1994, nhóm phát triển kết nối này nhận được khoản tài trợ của Bộ Giáo dục và Đào tạo Australia. Vào tháng 4, Viện CNTT và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đạt được thỏa thuận đăng ký tên miền.vn với tổ chức quản lý tên miền Internet quốc tế. Nếu việc này không được tiến hành khẩn trương thì Việt Nam sẽ gặp những khó khăn về tên miền quốc gia giống như Philippines (tên miền .ph của Philippines đã bị người khác đăng ký mua trước).
... đến khi mạng VARENet ra đời
Sau khi việc đăng ký tên miền hoàn tất, mạng VARENet (Vietnam Academie Research and Educational Network) ra đời với 9 đường điện thoại và các đầu dây dừng tại Đại học Quốc gia Australia. Trong thời gian đầu, e-mail được gửi 5 lần/ngày từ Australia về Hà Nội.
Sau này, Viện CNTT thiết lập hệ thống phân phát thư tự động VARENet, bắt đầu tăng số lượng các đầu nút kết nối từ TP HCM đến Nha Trang, Huế và Hải Phòng. Đến năm 1996, có khoảng 300 điểm được kết nối với Viện CNTT tại Hà Nội nhờ sử dụng modem, mạng điện thoại công cộng và các máy tính có cài giao thức mạng UUCP.
Người sử dụng thuộc các tổ chức khác nhau, như Viện Toán học Hà Nội, Viện Vật lý và Ủy ban về Chất độc màu da cam. Các đầu mút được chia thành 5 loại: ac (nghiên cứu), edu (giáo dục), gov (chính phủ), org (các tổ chức) hoặc com (thương mại). Đến giữa 1998, VARENet đã thu hút gần 1.500 nhóm khách hàng và khoảng 4.000 người dùng cá nhân.
Trên thực tế, các tên miền cấp hai trên (ac.vn, edu.vn, gov.vn, org.vn và com.vn) được quản lý tại Australia. Mãi đến năm 2000, việc chuyển giao toàn bộ quyền quản lý tên miền cho Việt Nam mới được hoàn tất, ông Rob kể lại.
(Theo Sài Gòn Giải Phóng)