Nạn độc quyền Internet ở Việt Nam
 |
|
Cần mạnh dạn bãi bỏ độc quyền Internet. |
"Tình trạng độc quyền bưu chính viễn thông nói chung trong thời gian qua đã làm cản trở sự phát triển của cả bưu chính viễn thông và Internet. Cần phải để nhiều thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực này để giảm bớt độc quyền", Giáo sư Đặng Hữu, Trưởng ban Khoa giáo TƯ, nhận định.
Có thể nói, tuy còn mới mẻ (Quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở VN mãi đến tháng 3/1997 mới ban hành), nhưng Internet là ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất ở VN. Theo số liệu của FPT Internet, nếu tháng 11/1997 toàn quốc mới có 10.000 thuê bao Internet, thì năm 1998 đã có 20.000, năm 1999 có 45.000 và đến hết năm 2000 có 100.000. Tốc độ tăng trưởng trung bình 100%/năm. Tuy vậy, con số này còn quá thấp so với dự kiến của các cơ quan quản lý Nhà nước khi bắt đầu đưa Internet vào VN: Đạt 250.000 thuê bao vào năm 2000.
Có nhiều ý kiến cho rằng, tình trạng độc quyền trong quản lý và cung cấp Internet đang kìm hãm sự phát triển của Internet VN. Chính sự độc quyền đã thủ tiêu cạnh tranh, không nâng cấp được chất lượng dịch vụ, bắt người tiêu dùng phải chịu giá cao một cách phi lý. Vậy Nhà nước có nên dỡ bỏ tình trạng độc quyền không và dỡ bỏ như thế nào? Câu hỏi này càng bức xúc hơn khi mà thời điểm VN gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, tham gia vào các hiệp định song phương, đa phương... đang đến gần.
Vì sao Internet ở VN phát triển không như mong muốn?
 |
|
Người dân truy cập Internet sốt ruột trước tốc độ kết nối chậm. |
Trưởng ban Khoa giáo TƯ Đặng Hữu và các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) như FPT, NetNam, Vietel..., những người sử dụng dịch vụ Internet thuộc nhiều thành phần xã hội (doanh nghiệp, cán bộ nghiên cứu, sinh viên, Việt kiều...) đều có câu trả lời thống nhất: Internet VN chưa phát triển vì giá quá đắt và chất lượng đường truyền quá tồi tệ! Điều đáng nói nhất là chất lượng: Tốc độ quá chậm, thường xuyên bị nghẽn mạch, hay bị truy cập trái phép...
Theo ông Trương Đình Anh, Giám đốc FPT Internet, hiện nay băng thông của Internet VN quá nhỏ. Vì băng thông nhỏ, chờ đợi lâu nên giá Internet VN đã đắt lại càng đắt. Những người thực sự cần dùng Internet nhất (như các cán bộ khoa học, sinh viên...) thì lại hoàn toàn không có khả năng tài chính để tiếp cận Internet. Các doanh nghiệp cũng không thể tính đến chuyện làm thương mại điện tử, xuất khẩu phần mềm là điều không tưởng. Tình trạng độc quyền làm giá dịch vụ đội lên rất cao, hơn các nước trong khu vực từ 4 đến 5 lần. Giá thuê đường truyền lại đắt và các thủ tục cũng rất lâu, nhiều khi kéo dài cả năm trời. Về "bức tường lửa" cũng cần phải xem lại, bởi hiện nay nó làm giảm công suất của toàn hệ thống khoảng 30%, lại thường xuyên bị sự cố. Ông Đình Anh nói: "Chính phủ nên sửa đổi Nghị định 21/CP và ban hành quy chế mới về quản lý Internet, bãi bỏ độc quyền của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT), cho thêm nhiều ISP ra đời, dỡ bỏ khung giá cứng... Có thế, Internet VN mới phát triển được".
Giám đốc Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội (Vietel), ông Hoàng Anh Xuân, cũng cùng quan điểm: "Cần phải có những chính sách rất cụ thể để chống độc quyền công ty trong lĩnh vực viễn thông nói chung và Internet nói riêng. Các doanh nghiệp mới kinh doanh Internet, để có thể cạnh tranh với Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC), nhất thiết phải có một nền tảng vật chất đủ mạnh và có sự hỗ trợ đặc biệt từ phía Nhà nước, Tổng cục Bưu điện".
Ông Trần Bá Thái, Giám đốc NetNam, nhận xét tổ chức mạng lưới Internet của Công ty VDC, nhà cung cấp truy cập Internet (IAP) duy nhất ở VN, có bất cập nội tại. Bởi VDC vừa là IAP vừa là ISP. Ông nói: "Mạng lưới cung cấp truy cập (chức năng IAP) và mạng lưới cung cấp dịch vụ (chức năng ISP) của VDC hiện tại, theo sự hiểu biết của tôi, là một. Điều này có nghĩa là các ISP khác đang kết nối vào ISP VDC và nhiều việc quản lý của các ISP này được ISP VDC làm hộ. Đây là một sự chồng chéo chức năng đáng lo ngại cần sớm được tháo gỡ".
Còn ông Bùi Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm Thông tin Bưu điện, lại cho rằng vấn đề Internet không phải chỉ là vấn đề riêng của ngành bưu điện, của riêng VNPT. Việc giao cho VDC, một thành viên của VNPT, quyền IAP duy nhất, tức có mạng Internet xương sống, cho đến nay có tính lịch sử của nó. Mới chỉ xét riêng về mặt kỹ thuật, năng lực mạng lưới thì vào thời điểm khai trương Internet đã không có doanh nghiệp nào có đầy đủ năng lực để làm IAP như VDC. Như vậy, vấn đề được gọi là độc quyền của VNPT thực chất là sự độc quyền của Nhà nước, không phải của doanh nghiệp... Và mọi vấn đề về kết nối, giá cước vẫn do Nhà nước quản lý. Tới đây, tình hình có thể sẽ còn có thay đổi bởi một dự thảo nghị định mới về Internet đã được Tổng cục Bưu điện trình Chính phủ, theo đó có thể sẽ có thêm các IAP ngoài VDC. Tuy nhiên, đó vẫn phải là doanh nghiệp nhà nước.
Có người ví von rằng, trên con đường tiến lên của Internet VN có một con khủng long to lớn, lười biếng, được nuông chiều đang ngồi. Ai đi qua cũng bị nó cắn một miếng. Cần phải thay đổi tình trạng này. Không chỉ vì con đường đang bị chắn, mà còn vì nếu không thay đổi thì đến một lúc nào đó chính con khủng long này sẽ bị những con thú khác, đã quen với cạnh tranh trên thị trường nên nhanh nhẹn và mạnh mẽ hơn, tiêu diệt.
Chỉ thị 58/CT-TƯ ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các ngành liên quan phải "...có chính sách đảm bảo thúc đẩy môi trường cạnh tranh, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia các hoạt động dịch vụ viễn thông và Internet. Từ năm 2001, đảm bảo cung cấp đầy đủ và thuận lợi các dịch vụ viễn thông và Internet cho người sử dụng với tốc độ và chất lượng cao, giá cước thấp hơn hoặc tương đương so với các nước trong khu vực...".
(Theo Lao Động, 6/4)