Thứ sáu, 24/6/2005, 08:33 GMT+7

Minh Ngọc: 'Chuyện cũ nói được vấn đề đương đại mới hay'

"Lửa thiêng" thành công, nghệ sĩ Minh Ngọc đã thoát khỏi day dứt vì món nợ nghĩa tình với hát bội, bộ môn đã giúp chị rất nhiều trong sự nghiệp. Nữ đạo diễn đã trò chuyện cùng VnExpress về duyên phận của mình với loại hình nghệ thuật truyền thống này.

- Thời gian qua, mọi người thấy Minh Ngọc đã kinh qua gần như đủ nghề của sân khấu: tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên kịch nói, cải lương. Lần này, duyên cớ nào đã đưa chị đến với hát bội?

- Tiếng là vở hát bội đầu tiên của tôi nhưng duyên thì đã từ lâu lắm rồi. Ngay trong Nọc Nạn, vở tốt nghiệp trường sân khấu của tôi vào năm 1980 đã có sự hỗ trợ rất nhiều của những anh chị em khoa hát bội cùng khóa. Và từ đó, trong suốt cuộc đời làm nghệ thuật, những "miếng" hay của hát bội cũng đã song hành và giúp tôi không ít trong kịch, cải lương. Tôi là người may mắn vì đã học được bao nhiêu điều hay của hát bội từ cô Năm Đồ, cô Ba Út, NSND Đinh Bằng Phi, NSND Thành Tôn và cậu tôi là đạo diễn hát bội Đình Phong ở Quảng Nam (Trung Quốc) hiện đã mất...

Lửa thiêng đã đến với tôi rất tình cờ khi bị trục trặc về đạo diễn vào giờ cuối, tôi là chuyên viên "phòng cháy chữa cháy" mà. Làm việc trong tâm trạng gấp rút, nhưng cuối cùng lại thấy mình thật may mắn vì đã được làm việc với một dàn diễn viên giỏi và tâm huyết với nghề, trong một vở có đề tài lịch sử rất hay.

Những diễn viên chính trong "Lửa thiêng".

- Sau khi xem xong "Lửa thiêng", đã có nhiều ý kiến cho rằng "hát bội bây giờ thật dễ xem". Chị đã làm ra 2 chữ "dễ xem" trong hát bội như thế nào?

- Theo tôi cái quan trọng nhất trong hát bội để thu hút được khán giả chính là tiết tấu. Trước đây, hát bội thường bị sa đà vào rề rà, kéo dài, một người ca thì tất cả những người còn lại phải đứng đợi. Khi bắt tay làm vở diễn này, tôi đã cố tình đẩy tình huống kịch để cải thiện điều này.

Thêm vào đó, tôi cũng quyết tâm khắc phục yếu tố khó nghe và hiểu trọn vẹn lời của hát bội trước đây bằng cách trao đổi với tác giả Phi Hùng để chuyển ý, lời bằng những câu thơ đối nhau để dễ nghe và dễ nhớ.

- Vở diễn cũng được đánh giá cao về đề tài lịch sử, từ đâu mà chị có đề tài hay như vậy?

- Tôi nhận được kịch bản tuồng Lửa thiêng viết về nhân vật lịch sử Võ Duy Dương từ nhà hát tuồng TP HCM của tác giả Phi Hùng, chuyển thể của Hữu Danh trong thời gian quá gấp rút để dựng. Những tư liệu lịch sử có được về nhân vật này chưa thật sự làm chúng tôi an tâm. Vừa may, trong cuộc hội thảo về "Nghệ thuật dân tộc TP HCM 30 năm" được tổ chức, đọc được bài " Võ Duy Dương, con người Quảng Ngãi ở đất Nam Bộ" của tác giả Thượng Hồng đã giúp tôi có một phần tự tin. Sau đó lại tiếp tục nhận được tin có cuộc hội thảo khoa học "Văn hiến Quảng Ngãi truyền thống và hiện đại", trong đó sẽ có một vài bài nghiên cứu về Võ Duy Dương, chúng tôi vội lên đường đến ngay đất Quảng.

Vở diễn còn sử dụng những tư liệu của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong 2 cuốn "Nho giáo ở Gia Định" và "Nghiên bút mười năm", trong đó có những tài liệu quý về chiến khu Đồng Tháp Mười.

Màn đầu tiên của vở diễn, cuộc rước "Tứ đại nam tướng": Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương.

Dựng xong tuồng này, tôi cảm thấy hài lòng về một điều mình vừa làm được cho thanh niên Việt Nam. Tôi kể cho họ nghe về hào khí của những người dân Nam bộ một thời, trong cuộc chiến chống thiên tử chiếu và những khuôn sáo nho giáo thời kháng chiến chống Pháp. Trong số những người đã nằm xuống, có những người còn được biết đến nhưng cũng có những người vô danh, tất cả họ chấp nhận mang tiếng nghịch thần vì nghĩa lớn, điển hình là nhân vật Võ Duy Dương. Tôi đã vô cùng tâm đắc với 4 câu thơ trích từ một tài liệu của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh: Chúa sáng tôi hiền chẳng xót dân/ Non sông ly loạn kể gì thân/ Trăm năm dốc hết lòng trung ái/ Chín suối cười khan tiếng "nghịch thần" và đã đưa vào vở diễn trong màn mở đầu lẫn kết thúc, bên cạnh những câu của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

- Có bao giờ chị nghĩ đến một đề tài đương đại để thu hút khán giả trẻ đến với nghệ thuật hát bội?

- Cốt lõi không phải là đề tài đương đại mà là đề tài nói được vấn đề đương đại. Lấy ví dụ trong vở Hồn xuân thu tôi dựng cho lớp sinh viên tốt nghiệp trường cao đẳng Sân khấu - Điện ảnh TP HCM, chuyện xứ người đã cách đây 2.000 năm nhưng vẫn có vấn đề đáng quan tâm "cái mà vua chúa cần là tôi tớ, chứ không phải nhân tài". Hay chuyện "hồn trương ba, da hàng thịt" đã từ rất lâu nhưng vẫn còn nói lên được nhiều vấn đề của xã hội bây giờ. Hồn này xác kia không hề là "chuyện thiên đình" nữa mà là chuyện của con người trong cuộc sống hiện đại này.

Tôi nghĩ rằng nếu sử dụng đề tài đương đại nhưng cốt truyện và vấn đề được đặt ra nhạt nhẽo, giả tạo, chỉ cần xem đầu là đã biết kết cục thì cũng sẽ tiếp tục gây nên sự thờ ơ thôi. Vấn đề là phải biết xử lý đề tài thế nào cho hay, nói lên được cái mới, cái đáng nói.

Đỗ Duy thực hiện

 
Lien he quang cao