Thứ sáu, 3/9/2004, 10:23 GMT+7

NSƯT Quốc Chiêm: 'Không thể bắc nước chờ gạo người'

NSƯT Quốc Chiêm.

Ngay từ khi trụ sở còn xập xệ và rạp diễn phải đi thuê, Nhà hát chèo Hà Nội đã khiến nhiều người phải ngạc nhiên với số đêm đỏ đèn gần 200 lượt/năm. NSƯT Quốc Chiêm, Giám đốc nhà hát, đã trao đổi về khâu tiếp thị của sân khấu truyền thống trong thời kinh tế thị trường.

- Là người trong ngành, anh định nghĩa thế nào về chuyện tiếp thị cho nghệ thuật truyền thống?

- Tôi xin khẳng định đã làm nghệ thuật sân khấu, đặc biệt là sân khấu truyền thống, thì không thể cứ ngồi nhà chờ khách tới mua vé. Tâm lý bắc nước chờ gạo người không được phép tồn tại trong đời sống sân khấu hiện nay. Cách đây vài năm, khi gặp gỡ một đoàn kịch Noh (nghệ thuật kịch truyền thống của Nhật Bản), tôi được phen ngỡ ngàng khi biết họ vẫn hoạt động ầm ầm ngay giữa thời hiện đại. Một kinh nghiệm được họ chia sẻ: để nuôi được ngành nghệ thuật của mình thì hãy tự tiếp thị sản phẩm và bắt tay khai thác cùng các cơ quan, tổ chức ngoài ngành. Chỉ có điều thực hiện không đơn giản chút nào.

- Những khó khăn mà nghệ thuật truyền thống ở nước mình gặp phải là gì?

- Tiếp thị cho sân khấu thì đừng nghĩ tới chuyện ăn xổi. Thu hút được khán giả đến rạp là một quá trình lâu dài và phức tạp lắm. Chưa kể tới chuyện thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Tôi xin lấy ví dụ Nhà hát múa rối Thăng Long, đơn vị có thể coi là giỏi nhất về chuyện này. Chỉ xét riêng về vị trí biểu diễn, họ có ưu thế tuyệt đối, tới mức nhiều người nói vui rằng đó là cái hom giỏ hút hết khách du lịch quanh hồ Gươm. Vậy mà ít ai biết, họ đã phải chuẩn bị và đầu tư từ rất nhiều năm trước để có kết quả như bây giờ.

- Anh cảm thấy thế nào khi Nhà hát anh cũng đang có một địa lợi là được Sở VH-TT Hà Nội giao cho chiếu chèo cổ trong đền Ngọc Sơn?

- Nắng mưa là chuyện của trời, mà phải diễn chiếu chèo ngoài trời như chúng tôi đâu phải là địa lợi. Tôi muốn nói tới một khó khăn nữa: Việc phối hợp giữa sân khấu với các ngành dịch vụ khác. Tham lam, ôm lấy tất cả những gì không phải chuyên môn của mình thì hỏng. Nhưng để sự phối hợp ấy hài hòa, có văn hóa lại là chuyện cần bàn. Chẳng hạn, tôi đã tính đến một mô hình khép kín, trong đó chiếu chèo Ngọc Sơn là điểm cuối cùng của các tour du lịch. Đi quanh Hà Nội, khách tới đây sẽ dừng chân nghỉ ngơi, ăn nhẹ và ngồi nghe chèo cổ.

- Về nghệ thuật, các đêm diễn của Nhà hát chèo Hà Nội được lựa chọn và định hướng như thế nào?

- Một số khán giả "nghiện" chèo rất mê thứ chèo mộc, nghĩa là để khách ngồi trực tiếp cạnh chiếu chèo, vừa biểu diễn vừa giảng giải kỹ về xuất xứ, đặc trưng của từng tích diễn và câu hát. Còn về biểu diễn tại rạp, chúng tôi đã có một số hội nghị khách hàng thời gian vừa qua. Kinh nghiệm được rút ra thế này: với khách nước ngoài, do cản trở về mặt ngôn ngữ nên chương trình cần rút bớt các lời hát, tập trung khai thác những nét độc đáo về hình thức biểu diễn. Còn với khán giả trẻ, những tích hề chèo cần được đưa ra nhiều và tăng số lượng trò nhời.

- Chiều theo thị hiếu khán giả là một yếu tố để tiếp thị thành công nhưng điều này có ảnh hưởng đến tiêu chí nghệ thuật của các lớp chèo cổ như thế nào?

- Chúng tôi tuyệt nhiên không cho phép mình lơ là trong việc giữ gìn hay rèn nghề từ những vở chèo cổ. Vừa qua, Nhà hát chèo Hà Nội đã lên kế hoạch sưu tầm, khôi phục một số bản diễn chèo cổ như Quan âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ từ các nghệ nhân chèo. Những vở như Cô Son, Đồng tiền vạn lịch từng làm nên truyền thống của Nhà hát cũng được chuyển giao cho lớp diễn viên trẻ. Bởi họ chính là bộ mặt của Nhà hát trong tương lai. Gìn giữ nghệ thuật chèo truyền thống trên nhiều mặt vẫn là cái đích cuối cùng. Không giữ được cái nền ấy, chuyện khai thác biểu diễn chỉ là chuyện ăn xổi mà thôi.

(Theo Thể Thao Văn Hóa)

Lien he quang cao