Chiến thắng đầu tiên trong mùa giải cho Ralf Schumacher
 |
| Ralf chia vui cùng đội Willimas và các phóng viên. |
Và cùng với vị trí thứ nhì dành cho Juan Pablo Montoya, sau Grand Prix châu Âu diễn ra chiều chủ nhật 29/6, đội BMW Williams đã vượt qua McLaren trên bảng xếp hạng với 82 điểm, chỉ còn kém đội dẫn đầu Ferrari 13 điểm.
Không có ai xứng đáng hơn R. Schumacher chiến thắng ở chặng 9 giải đua xe F1 vô địch thế giới 2003. Anh đã thể hiện phong độ xuất sắc trong suốt 60 vòng đua. Ngay sau lúc có tín hiệu xuất phát, trong khi Michael Schumacher (Ferrari), xếp thứ hai sau vòng phân hạng 2, còn đang phân vân chưa biết tấn công vị trí dẫn đầu của Kimi Raikkonen (McLaren) ra sao thì tay đua đội Willams đã nhấn ga, lao lên giành luôn vị trí của người anh trai. Nỗi thất vọng hiện rõ trên khuôn mặt Giám đốc thể thao Ferrari - Jean Todt - như báo trước một cuộc đua không được như ý. Và quả thật, tại đường đua Nurburgring năm nay, M. Schumacher đã tỏ ra thua sút so với em trai mình.
Hơn 20 vòng trôi qua, chưa có một sự cố kỹ thuật hay một va chạm nào. Cả 20 tay đua đều có dịp thể hiện khả năng, chạy với tốc độ cao nhất. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các xe dần dần được nới rộng. Dẫn đầu lúc này đang là Kimi Raikkonen, lần lượt phía sau là R. Schumacher, M. Schumacher, Barrrichello và Pablo Montoya. Tiếp đó là 2 chiếc xe của Renault. Tay lái trẻ Fernando Alonso từ thứ 8 đã leo lên thứ 6, qua mặt cả người đồng đội Jarno Trulli lẫn Oliver Panis của Toyota.
 |
| Kimi Raikkonen đã dẫn đầu cho tới vòng 25. |
Cho đến vòng 25, bất ngờ đầu tiên đã xảy ra. Xe Kimi Raikkonen bị cháy động cơ và hy vọng chiến thắng của tay đua người Phần Lan tan theo lớp khói đang bốc ra mù mịt từ đuôi chiếc McLaren. Như vậy, đây là chặng đua thứ 2 trong mùa giải Raikkonen phải bỏ cuộc giữa chừng, sau Grand Prix Tây Ban Nha. Dù sao anh vẫn duy trì được ngôi nhì bảng, kém M. Schumacher 8 điểm và cũng hơn tay đua xếp thứ 3 sau chặng này - Ralf Schumacher - chừng ấy điểm. Tuy nhiên, đội McLaren, không giành được điểm nào, đã tụt xuống thứ 3, kém Williams 6 điểm (82-76). Đây là kết quả mà kém nhất của McLaren từ đầu mùa, sau khi đánh mất ngôi số một vào tay Ferrari ở chặng trước.
Sau tai nạn của Raikkonen, Ralf Schumacher là người dẫn đầu đoàn đua. Và kể từ đó, trừ lúc vào tiếp nhiên liệu ở vòng 40, không một lần nào Ralf để mất lợi thế vào tay các đối thủ. Và anh cán đích sớm hơn người về thứ nhì tới 16,821 giây.
Juan Pablo Montoya giành ngôi á quân sau những nỗ lực rất đáng khen. Tại vòng 43, anh vượt qua M. Schumacher trong một tình huống sẽ đào sâu thêm mối bất hoà giữa Montoya với đương kim vô địch thế giới. M. Schumacher đang chạy bên phải ngay trước mũi xe Montoya. Tay đua người Colombia quyết định vượt lên. Anh bẻ tay lái rất gấp ở khúc ngoặt, khiến bánh sau chạm vào đầu xe M. Schumacher. Chiếc Ferrarai F2003-GA quay ngang, trượt bánh ra lề đường. Montoya lao đi, bỏ lại đối thủ đang bị mắc kẹt ở lớp cát ven đường. Chỉ đến khi có sự giúp đỡ của các nhân viên phục vụ, Michael Schumacher mới có thể trở lại cuộc tranh tài. Tay đua người Đức sau đó không làm sao để đạt được thành tích tốt hơn vị trí thứ 5 khi cán đích. Mặc dù rất cố gắng ở những mét cuối cùng, nhưng M. Schumacher cũng đành chấp nhận chịu thua Fernando Alonso án ngữ trước mặt. Cùng với Rubens Barrichello về thứ 3, Ferrari có được 10 điểm, đủ để duy trì ngôi số một trên bảng xếp hạng các đội.
 |
| Ralf Schumacher đã giành chiến thắng ngay tại quê hương. |
Lẽ ra vị trí thứ 5 thuộc về David Coulthard (McLaren) nếu anh không gặp tai nạn ở vòng 57, tức là chỉ còn cách vạch đích đúng 3 vòng. Nóng lòng vượt qua Fernando Alonso, Coulthard liên tục theo sát đuôi chiếc Renault. Hơn 10 vòng, 2 chiếc xe vẫn đang ở vào thế bám đuổi quyết liệt. Đột nhiên, khi vào cua, Alonso đã đạp phanh hơi sớm, đẩy tay đua người Scotland vào sự lựa chọn, hoặc là giữ nguyên tay lái, và sẽ đâm vào đuôi xe Alonso, hoặc né tránh đối thủ và có nguy cơ lao ra khỏi đường. Trong cả 2 trường hợp, Coulthard đều có khả năng phải bỏ cuộc nhưng nếu 2 xe va chạm, Alonso cũng không thể tiếp tục về đích. David Coulthard đã theo cách thứ hai. Chiếc xe của anh lao ra khỏi đường, sau đó xoay ngang, rồi nẩy bật lên nhiều mét trước khi chết máy.
Ngoài 2 tay lái của McLaren, còn có 3 tay đua khác phải dừng lại giữa chừng: Oliver Panis (đội Toyota, vòng 47), Jarno Trulli (Renault, 47), Jacques Villeneuve (BAR Honda, 51) và Cristiano Da Matta (Toyota, 53).
Giữ nguyên vị trí thứ 4 như ở vòng đua trước, Fernando Alonso thể hiện phong độ khá ổn định. Sau chặng này, tay đua 21 tuổi có 39 điểm, nhưng đã rơi xuống thứ 5 trên bảng xếp hạng cá nhân (tụt 2 bậc so với chặng đua trước). Ngoài ra, nguyên nhân tai nạn giữa anh và Coulthard cũng đang bị ban tổ chức điều tra.
Đội Minardi có thành tích đáng khích lệ với Justin Wilson thứ 12 và Jos Verstappen thứ 14.
Kết quả:
1. Ralf Schumacher - BMW Williams: 1h34'43"662
2. Juan Pablo Montoya - BMW Williams: kém Ralf 16,821 giây
3. Rubens Barrichello - Ferrari: kém Ralf 39,673 giây
4. Fernando Alonso - Renault
5. Michael Schumacher - Ferrari
6. Mark Webber - Jaguar
7. Jenson Button - BAR Honda
8. Nick Heidfeld - Sauber
| TT |
Tay đua |
Điểm |
| 1 |
Ralf Schumacher |
10 |
| 2 |
Juan Pablo Montoya |
8 |
| 3 |
Rubens Barrichello |
6 |
| 4 |
Fernando Alonso |
5 |
| 5 |
Michael Schumacher |
4 |
| 6 |
Mark Webber |
3 |
| 7 |
Jenson Button |
2 |
| 8 |
Nick Heidfeld |
1 |
| TT |
Đội |
Điểm |
| 1 |
BMW Williams |
18 |
| 2 |
Ferrari |
10 |
| 3 |
Renault |
5 |
| 4 |
Jaguar |
3 |
| 5 |
BAR Honda |
2 |
| 6 |
Sauber Petronas |
1 |
| Bảng xếp hạng mùa giải (sau 29/6) |
| TT |
Tay đua |
Đội |
Điểm |
| 1 |
Michael Schumacher |
Ferrari |
58 |
| 2 |
Kimi Raikkonen |
McLaren |
51 |
| 3 |
Ralf Schumacher |
Williams |
43 |
| 4 |
Juan Pablo Montoya |
Williams |
39 |
| 5 |
Fernando Alonso |
Renault |
39 |
| 6 |
Rubens Barrichello |
Ferrari |
37 |
| 7 |
David Coulthard |
McLaren |
25 |
| 8 |
Jarno Trulli |
Renault |
13 |
| 9 |
Giancarlo Fisichella |
Jordan |
10 |
| 10 |
Jenson Button |
BAR |
10 |
| 11 |
Mark Webber |
Jaguar |
9 |
| 12 |
Heinz-Harald Frentzen |
Sauber |
7 |
| 13 |
Cristiano da Matta |
Toyota |
3 |
| 14 |
Jacques Villeneuve |
BAR |
3 |
| 15 |
Nick Heidfeld |
Sauber |
2 |
| 16 |
Olivier Panis |
Toyota |
1 |
| 17 |
Ralph Firman |
Jordan |
1 |
| 18 |
Antonio Pizzonia |
Jaguar |
0 |
| 19 |
Jos Verstappen |
Minardi |
0 |
| 20 |
Justin Wilson |
Minardi |
0 |
| TT |
Đội đua |
Điểm |
| 1 |
Ferrari |
95 |
| 2 |
Williams - BMW |
82 |
| 3 |
McLaren - Mercedes |
76 |
| 4 |
Renault |
52 |
| 5 |
BAR - Honda |
13 |
| 6 |
Jordan - Ford |
11 |
| 7 |
Sauber - Petronas |
9 |
| 8 |
Jaguar - Cosworth |
9 |
| 9 |
Toyota |
4 |
| 10 |
Minardi - Cosworth |
0 | |
Thành Lê