Đeo kính cận chưa đủ số khiến mắt nặng thêm
Từ nhiều thập kỷ nay, các bác sĩ nhãn khoa thường cho bệnh nhân cận thị dùng kính thấp hơn độ cận thực của họ. Một nghiên cứu mới đây của Malaysia cho thấy, phương pháp này khiến độ cận của mắt tăng nhanh hơn so với dùng kính đúng độ. Phát hiện nói trên có thể làm thay đổi quy tắc kê kính của các bác sĩ trên toàn cầu.
Nếu đúng như vậy thì hàng triệu người trên thế giới có thể đang làm cho mắt mình tồi tệ hơn, thậm chí là trở thành mù, vì một ý tưởng sai lầm được duy trì từ lâu: Đeo kính thấp hơn độ cận thực.
Học thuyết "điều chỉnh cận chưa tới mức"
Ở những người bị cận thị, khi nhìn xa, cơ mắt không thể khiến thủy tinh thể dẹt đủ độ để tập trung ánh sáng từ đồ vật lên võng mạc. Thay vào đó, tụ điểm lại nằm phía trước võng mạc, khiến hình ảnh bị nhòe. Kính cận có thể khắc phục hoàn toàn vấn đề này, giúp đưa tụ điểm lùi lại và rơi vào đúng võng mạc.
 |
| Hình 1: Học thuyết điều chỉnh cận chưa tới mức. |
Tuy nhiên, khi người cận đeo kính đúng số và nhìn những vật ở gần, tụ điểm lại nằm ở sau võng mạc. Khi này, việc cố gắng đưa tụ điểm về đúng chỗ sẽ khiến nhãn cầu dài ra (phần 1, hình 1). Điều này không những làm cho khả năng nhìn xa của mắt giảm mà còn làm tăng nguy cơ bị các bệnh mắt nghiêm trọng như bong võng mạc, glaucoma và bệnh lý võng mạc. Tất cả các bệnh này đều có thể dẫn tới mù.
Xuất phát từ quan điểm này, người ta đi đến kết luận là đeo kính chưa đủ độ sẽ giúp ngăn nhãn cầu dài ra (phần 2, hình 1). Khi dùng kính với độ thấp hơn, ánh sáng từ vật thể ở xa sẽ hội tụ ở phía trước võng mạc chứ không rơi lên màn hình này.
Bằng chứng duy nhất cho thấy phương pháp này hiệu quả được dẫn ra từ nghiên cứu trên 33 trẻ em ở Nhật hồi năm 1965 và một nghiên cứu ở gà con vào thập kỷ 90. Những công trình nói trên đã bị chỉ trích là thiếu nghiêm túc và không thuyết phục.
Nghiên cứu mới: Cần điều chỉnh hoàn toàn độ cận
Với mục đích củng cố giá trị phương pháp "điều chỉnh cận chưa tới mức", O’Leary và cộng sự tại Đại học Quốc gia Malaysia đã tiến hành nghiên cứu trên 94 trẻ bị cận thị. Các em được chia thành 2 nhóm: một nửa đeo kính dưới độ cận và một nửa đeo kính đúng số. Tất cả đều được đo chiều dài nhãn cầu bằng phương pháp siêu âm 6 tháng một lần.
 |
| Hình 2: Mức độ cận tăng nhiều hơn ở nhóm đeo kính chưa đủ số. |
Nhóm nghiên cứu hết sức ngạc nhiên khi thấy rằng, ở các trẻ đeo kính số thấp, nhãn cầu dài nhanh hơn (nghĩa là độ cận tăng nhanh hơn) so với những cháu được đeo đúng số. Dự định tiến hành nghiên cứu trong 3 năm đã phải bỏ giữa chừng, vì chỉ sau 2 năm, thị lực của trẻ đã xấu đi trông thấy. Tuy số lượng bệnh nhân còn nhỏ, nhưng đây là nghiên cứu có quy mô lớn nhất và nghiêm túc nhất từ trước tới nay.
Tác giả O’Leary cho biết, đeo kính đúng số từ lâu không còn là mốt nữa. Ông phải lục tìm rất nhiều y văn cũ và chỉ tìm được lời khuyên cho trẻ đeo kính đúng với độ cận ở những văn bản của năm 1938. Theo ông, việc để cho hình ảnh không rơi vào võng mạc sẽ khiến mắt tồi đi. Điều này nghĩa là không đeo kính có thể còn tồi tệ hơn đeo kính chưa đủ độ. Ngoài ra, đeo kính số thấp có thể hại cho cả người lớn, mặc dù tốc độ giảm thị lực ở họ chậm hơn so với trẻ em. Lời nhắn nhủ của O’Leary tới các bác sĩ, bệnh nhân và cha mẹ là: “Không đeo kính là sự lựa chọn tồi nhất. Nhưng cũng đừng đeo kính số thấp. Hãy đeo kính đúng với độ cận của mình".
Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng, cần tiếp tục nghiên cứu để chứng minh là tất cả những hình ảnh nhòe đều khiến bệnh cận thị trầm trọng hơn.
"Dịch" cận thị
Cho tới nay, vẫn còn rất nhiều tranh cãi xung quanh nguyên nhân của cận thị. Tuy nhiên, có thể thấy rằng bệnh rất phổ biến ở những trẻ dùng nhiều thời gian để đọc hoặc làm việc phải nhìn gần. Cận thị đã đạt mức độ "dịch bệnh" tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á như Singapore, Đài Loan, Hong Kong. Tại đó, tỷ lệ thanh niên bị cận thị lên tới 90% (so với 15-30% ở Mỹ và châu Âu).
Thu Thủy (theo NewScientist)