Thứ sáu, 4/11/2011, 10:23 GMT+7

Người trốn nợ bị xử lý tội gì?

Tôi thấy một số người huy động vốn, trả lãi suất rất cao. Thoạt đầu, họ thực hiện đúng cam kết nhưng chỉ sau thời gian ngắn thì mất khả năng thanh toán và bỏ trốn. Xin hỏi những người như vậy sẽ bị xử lý như thế nào?

Trần Thị Ngọc

Cần tự bảo vệ mình trước tiên

Ủng hộ ý kiến của Tùng Ngân. Các cụ nói đúng "tham thì thâm" nên người cho vay trước hết phải "tỉnh", lời thì ăn đều, đến lúc người vay không đủ khả năng trả thì đòi xử này xử nọ, potay.com

Luật có nhiều mâu thuẫn

Vay tiền và trả lãi là thuê tài chính, và thuê tài chính cũng như thuê đồ dùng như phương tiện đi lại.... Nhưng tại sao thuê xe rồi đi cắm lấy tiền tiêu sxi lại bị xử hình sự còn lấy luôn tiền của người cho thuê lại không bị xử hình sự, nói vui là lấy tiền đi tiêu còn sướng hơn là lấy xe đi cắm. Không bị tù mà vẫn được tiêu chỉ khổ người chót cho vay thôi.

Không khó áp dụng Luật hình sự

Bộ luật Hình sự hiện hành có quy định một số tội danh liên quan đến hành vi trốn nợ gồm có:

1- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139

2- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140

3- Tội chiếm giữ trái phép tài sản được quy định tại Điều 141

Hành vi huy động vốn và trốn nợ của "con nợ" có thể bị khép và một trong ba tội trên tùy theo mức độ nghiêm trọng và động cơ chủ quan của "con nợ". Ngoài ra, người cho vay (chủ nợ) nếu cho vay với lãi suất quá cao cũng có thể bị xử lý về tội "Cho vay nặng lãi" được quy định tại Điều 163 của Bộ luật Hình sự.

Đa phần chỉ là luật dân sự

Nhà nước không cho phép vay mượn với lãi suất cao. Trong những trường hợp này lọt thì ăn không lọt thì đền nên người cho vay phải chấp nhận tính rủi ro cao. Một khi người vay mất khả năng chi trả thì người cho vay phải chịu thiệt. Ông bà ta có nói "tham thì thâm" quả không sai chút nào. Pháp luật cũng chỉ xử lý dân sự thôi.

Xuất phát từ lợi dụng lòng tham

Tôi cho rằng các vụ vỡ nợ nổ ra liên tục trong thời gian gần đây mà nguyên nhân xuất phát từ lòng tham của cả người vay và người cho vay. Người vay tìm cách moi tiền của người có tiền bằng mọi thủ đoạn công khai như lãi suất cao, trả sòng phẳng ngay lúc người có tiền mang gửi, dùng số tiền vay được thoải mái mua sám tài sản đắt tiền làm mồi nhử. Chính những cái đó đánh vào long tham và tin tưởng của người gửi. Chính vì lòng tham của người có tiền khi người vay đưa ra mức lãi quá cao đã làm mờ mắt người có tiền. Cứ nằm nhà vênh râu mà hưởng lãi cao gấp 3-4 lần gửi Ngân hàng mà không cần biết họ vay tiền làm cái giống gì mà lời dữ vậy. Ngồi ăn núi lở tất có ngày cụt vốn. Việc xử lý chỉ bắt kẻ vay phải trả phần gốc còn lãi sau khi trừ phần lãi mà người vay đã trả cho người cho vay. Có như vậy mới cảnh tỉnh người có tiền không gửi ngân hàng mà chỉ nghe xúi dại của kẻ vay đưa ra món lời quá hấp dẫn.

( Quoc Long.P12 Quận Tân Bình )

Khó xử lý

Như ý kiến trên, nếu có đầy đủ chứng cứ thì là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhưng quá trình điều tra nếu số tiền đó mượn không phải làm ăn như đã nói mà để tiêu xài thì hình như là chuyển qua tội lừa đảo tài sản. Tôi cũng đã đọc nhiều các bài báo nói về các vụ vỡ nợ, và ấn tượng với 1 bài báo "Nữ quái và những cơn lốc vỡ nợ" của báo Phụ nữ TP.HCM thì có đoạn : "Từ ba quyển sổ ghi nợ mà chồng Cúc nộp cho cơ quan công an, số tiền mà Cúc huy động được khoảng trên 270 tỷ đồng. Công an H.Phú Xuyên, TP.Hà Nội đã khám xét nhà, bắt chồng Cúc để điều tra về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Tôi tự hỏi: Tại sao bà vợ làm mà ông chồng bị bắt vì hành vi của vợ? Khó hiểu quá. Cám ơn Tòa soạn vì tôi cũng thắc mắc việc xử lý những người phụ nữ này.

Vẫn xác định được chính xác tội danh

Theo tình huống vừa nêu, chúng ta có thể xác định tội danh của hành vi như sau:
1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139, BLHS 1999);
2. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140, BLHS 1999).
Bộ luật hình sự quy định:
Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác ..."
Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác ...."
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
............
Dấu hiệu để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) và tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) chính là hành vi khách quan của tội phạm:
Cả 2 tội trên người phạm tội đều có thủ đoạn "gian dối" và hành vi "tự nguyện giao tài sản" (dựa trên sự tín nhiệm) của nạn nhân. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối là khác nhau:
- Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139): Thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt).
- Đối với tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 140): Việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm (người quen biết..). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất…Không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ…
Đối với tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", luật có quy định khá rõ hơn về hành vi khách quan. Do đó, chỉ cần xác định được yếu tố chủ quan của tội phạm thì có thể xác định tội danh một cách chính xác mà không bị nhầm lẫn giữa hai tội danh này.
Với trường hợp nêu trên, sẽ bị xử lý hình sự về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại Điều 140 BLHS.
Vài điều trao đổi cùng bạn./.

Thương cho những người nghèo !

Nơi tôi ở đã chứng kiến nhiều vụ vỡ nợ mà chủ nợ vẫn nhởn nhơ ngòai vòng pháp luật, mặc dù con số lên tới vài chục tỉ đồng. Chỉ khổ những người nghèo lại cả nể nên đi gom tiền lại cho chúng. Hậu quả bây giờ nhiều gia đình nhà tan cửa nát. Ở đây tôi không đề cập tới những người hám lợi tức là vay chỗ lãi thấp chuyển sang cho vay lãi cao mà ta hay gọi là buôn tiền. Những người này vì là chuyên nghiệp nên họ cũng đã tính được những rủi do và đặc biệt họ rất nhạy bén, vậy nên xác suất bị mất tiền của họ cũng giảm đáng kể. Còn những người lao động, công nhân, công chức, nông dân vì tin vào mối quan hệ gắn bó mà đã cho vay hoặc đứng ra vay hộ cho người mà họ cho rằng "gắn bó" kia mặc dầu không lấy lãi. Kết quả khi sự việc diễn ra họ là người khổ nhất. Nhà nghèo giờ lại gánh thêm một khoản nợ lãi, chưa kể tới việc nuôi con ăn học đại học. Thật đáng thương mà pháp luật chẳng biết phải làm gì để bảo vệ họ!

Quy định của pháp luật

Thật sự các trong thời buổi kinh tế khó khăn, việc bùng nổ tín dụng '' đen'' là việc dễ hiểu. Khi các vụ vỡ nợ xảy ra.Việc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự là có thể thực hiện được nếu cơ quan điều tra chứng minh được sự liên quan của hành vi bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản với các chủ thể cho vay tiền thì có thể truy cứu được. Tuy nhiên nếu vì làm ăn thô lỗ thì có lẽ sẽ trờ thành vụ án dân sự thông thường.Rất khó để đòi lại số tiền.Với quy mô lớn gây hiệu ứng dây chuyền, hậu quả nặng nề. Nói chung chúng ta phải tuân theo quy luật thị trường. ''Lãi cao, tất nhiên tỉ lệ thuận với những rủi ro".

Phải bị truy cứu TNHS

Chào bạn. Theo như những gì mô tả thì hành vi nêu trên có thể bị truy cứu TNHS với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc với tội danh lạm dụng tín nhiệm tài sản tuỳ thuộc vào động cơ, mục đích phạm tội trong cấu thành của mặt chủ quan của luật hình sự. Sự khác biệt của hai tội danh này nằm ở chỗ: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu để tiếp xúc nạn nhân nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, tức là ý thức về chiếm đoạt tài sản nảy sinh trước. Trong khi đó đối với tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản thì ý thức về chiếm đoạt tài sản chưa hình thành ngay từ đầu, mà thông qua một hình thức giao dịch dân sự cụ thể nào đó (cho vay, cầm cố, thế chấp...) mà sau đó mới phát sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Do đó trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được động cơ, mục đích phạm tội để định tội danh và căn cứ vào các tình tiết có liên quan đến vụ án để định khung hình phạt.

Dựa trên cơ sở pháp luật

Bình thường khi chủ nợ bị vỡ họ có quyền giải thích về việc họ vỡ nợ và cách thức trả nợ thế nào. Ví dụ chủ nợ khai là hiện tại tôi không trốn, tôi chỉ đi công tác tạm thời, tôi chưa nói là tôi trốn. Số tiền tôi vay tôi vẫn trả và trả theo đúng thời hạn theo cam kết. Như vậy chủ nợ vẫn chưa bị xử tội. Nếu như chủ nợ tuyên bố xù nợ thì sẽ làm theo đúng pháp luật xử tội theo đúng khung tiền xù nợ. Khi đi tù về người xù nợ vẫn phải trả tiền cho các con nợ. Chính vì vậy hầu như các chủ nợ bị vỡ nhiều hơn là xù. Còn con nợ thì sao? Ai cũng khôn cả, không bao giờ họ cho vay mà ghi trong giấy vay quá mức giá ngân hàng.

Còn vấn đề hám lời thì sao? Thông thường họ chỉ cho vay với giá 4.5% 1 tháng mà thôi. Vay nhiều nên chỉ giá đó. Nhưng theo mình nghĩ giá đó cũng là phải thôi bởi vì không thế chấp. Không mất thời gian. Tiền chuyển nhanh nên cái giá đó cũng là phải chăng. Vậy người cho vay vẫn là đúng 100% trước pháp luật. Nhưng thời gian để trả đó là 1 bài toán khó. Nhưng suy cho cùng nếu hàng trăm tỉ thì bản án là bao nhiều? Liệu chủ nợ có chấp nhận án chung thân? Rồi cũng lòi hết tiền ra mà thôi. Ở gần nhà tôi đã có 1 chủ nợ vượt biên ôm theo số tiền trọn gói. Nếu không giam giữ chủ nợ thì nguời cho vay có nguy cơ mất trắng rất nhiều.

Có thể là tội lừa đảo

ĐÂY LÀ SỰ GIAO DỊCH DÂN SỰ GIỮA CÁ NHÂN VỚI NHAU,CÓ KHI THỎA THUẬN = MIỆNG CÓ KHI CHỈ LÀ GIẤY TAY, và chủ yếu là ham lời. Với pháp luật thì tùy theo
đơn thưa của từng trường hợp và tùy theo số tiền nữa. (Lợi dụng uy tín trong giao dich chiếm đoạt tiền của người khác) chỉ xử tội đó thôi.

Rất khó xử lý hình sự

Bản thân mỗi người cho vay phải có trách nhiệm tìm hiểu năng lực của người khác khi cho vay. Người cho vay và vay đều ko ép buộc, lừa đối thì khó có thể xử lý hình sự. Vì đơn giản cả 2 bên đều cùng có lợi. Tuy nhiên nếu chứng minh được họ lừa dối, dùng thủ tinh vi nhằm vay tiền phuc vụ các muc đích sai trái như cờ bạc, cá độ ... thì có thể khép vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ý kiến của bạn

 
 Thay hình khác
  
Off Telex VNI VIQR
 
Lien he quang cao