Thứ hai, 13/11/2006, 11:37 GMT+7

Habubank gấp rút hội nhập

Các ngân hàng liên tục tăng vốn, mở rộng mạng lưới, đưa ra những sản phẩm đa dạng hơn để nâng cao khả năng phục vụ khách hàng,… Những động thái gấp gáp đó trong thời điểm này có lý do chính là chuẩn bị cho cạnh tranh khi hội nhập.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục cấp phép cho các ngân hàng thương mại mở thêm chi nhánh, có thể nói chưa có giai đoạn nào số lượng chi nhánh và phòng giao dịch được các ngân hàng mở nhiều như hiện nay. Trước đây, các ngân hàng thương mại nhà nước có mạng lưới áp đảo các ngân hàng cổ phần thì nay, điều này phần nào đã thay đổi.

Lớn nhất trong khối cổ phần vẫn thuộc về Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) với số chi nhánh và phòng giao dịch gần đạt mức 150. Trong vòng 2 năm trở lại đây, hầu hết các ngân hàng cổ phần đã nâng tốc độ mở rộng mạng lưới khoảng 10 – 20 điểm giao dịch mới mỗi năm. Điều này có thể trông thấy ngay trên chính các đường phố đô thị lớn, bảng hiệu các ngân hàng đã mọc lên “san sát”, việc tìm tới ngân hàng đã thuận tiên hơn rất nhiều cho người dân.

Theo bà Bùi Thị Mai, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank) việc mở rộng mạng lưới sẽ giúp các ngân hàng tăng khả năng phục vụ. Với tập quán giao dịch ngân hàng trực tiếp của người dân, các phòng giao dịch và chi nhánh đi đến từng khu dân cư là điều tất yếu nếu ngân hàng muốn thu hút thêm khách hàng và cung cấp sản phẩm dịch vụ. Đặc biệt, mạng lưới rộng rãi chính là lợi thế của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nước ngoài. Đây cũng là lý do chính khiến các ngân hàng đẩy mạnh việc thành lập các điểm giao dịch mới khi hội nhập đã cận kề.

Mới đây nhất, Habubank đã khai trương Sở giao dịch Hàng Trống đầu tiên của mình. Sở giao dịch này sẽ giữ vai trò đầu mối và liên kết các chi nhánh lại và hỗ trợ các chi nhánh đó trong việc phát triển các dịch vụ ngân hàng . Cũng theo bà Mai, việc khai trương Sở giao dịch Hàng Trống sẽ là nhân tố đột phá trong công tác phát triển mạng lưới của ngân hàng. Theo dự kiến, đến năm 2010, Habubank sẽ đạt mốc 50 chi nhánh và phòng giao dịch .

Và tăng vốn

Không chỉ mở rộng mạng lưới, “cuộc đua” tăng vốn cũng diễn ra với tốc độ cao. Kết quả làm ăn tốt trong thời gian vừa qua cộng với sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước, khiến giới đầu tư đặc biệt quan tâm tới các ngân hàng làm cho giá cổ phiếu ngân hàng tăng cao và các ngân hàng rất thành công trong việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu tăng vốn. Dự kiến, đến cuối năm nay sẽ có rất nhiều ngân hàng lọt vào “câu lạc bộ 1.000 tỷ” thay vì chỉ có hai ngân hàng là Sacombank và Ngân hàng Á Châu (ACB) như vào thời điểm cuối năm ngoái.

Mới đây nhất, Ngân hàng Quân Đội (MB) thông qua phát hành thêm cổ phiếu và trái phiếu chuyển đổi đưa vốn của mình xấp xỉ mức 1.000 tỷ đồng và dự kiến cuối năm nay sẽ vượt qua mốc này, Habubank sau hai đợt tăng vốn trong năm nay đã đưa vốn điều lệ của mình lên 900 tỷ, ngân hàng này dự kiến sẽ đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ vào cuối năm 2006 và vốn chủ sở hữu đạt tối thiểu 1.600 tỷ đồng. Hàng loạt các tên tuổi khác cũng có kế hoạch tương tự như Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) sẽ tăng vốn lên gấp đôi đạt mức khoảng 1.600 tỷ đồng, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Quốc tế,… cũng đang trên con đường này.

Theo ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (NHNN), các ngân hàng buộc phải làm như vậy bởi hiện quy mô vốn của hầu hết các ngân hàng Việt Nam còn quá nhỏ. Một ngân hàng cỡ trung bình nhỏ của Châu Âu cũng có vốn khoảng 500 triệu USD, tức tương đương với ngân hàng thuộc loại lớn nhất Việt Nam là Vietcombank. Quy mô vốn không chỉ thể hiện sức mạnh tài chính một ngân hàng mà còn giúp các ngân hàng có điều kiện đầu tư cho công nghệ, phát triển sản phẩm dịch vụ, nâng cao khả năng cung ứng vốn cho khách hàng.

Đầu tư cho chiều sâu

Theo bà Bùi Thị Mai, khi quy mô của ngân hàng tăng chỉ cần gấp đôi thì đồng nghĩa với hệ thống quản lý phải nâng cấp lên gấp nhiều lần. Hệ thống thông tin giao dịch, thông tin phản hồi với khách hàng, giữa các phòng ban, yêu cầu xử lý dữ liệu giao dịch cũng phải nâng cấp mới có thể đáp ứng được yêu cầu.

Công nghệ và trình độ quản lý bao gồm quản trị ngân hàng, quản trị rủi ro,… vẫn được coi là điểm yếu của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nước ngoài. Chính vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi hầu hết các ngân hàng đã phải bỏ số tiền hàng triệu USD để đầu tư cho công nghệ thông tin và đào tạo nhân lực. Thành công dễ nhìn thấy chính là những sản phẩm dịch vụ mới trên nền công nghệ hiện đại được tung ra thị trường liên tục. Từ sản phẩm đơn giản là “gửi tiền một nơi, rút nhiều nơi” đến những sản phẩm phức tạp hơn như thẻ thanh toán, tiết kiệm điện tử,… đều là sản phẩm của quá trình đầu tư công nghệ từ các ngân hàng trong nước.

Để rút ngắn thời gian tiếp cận với trình độ quản lý tiên tiến, giải pháp lựa chọn đối tác chiến lược là các ngân hàng nước ngoài lớn đã được một số ngân hàng thực hiện. Theo ông Lê Xuân Nghĩa, hiện vẫn còn nhiều ngân hàng nước ngoài lớn khác đang tìm kiếm các cơ hội hợp tác với các ngân hàng trong nước, những ký kết cụ thể sẽ sớm diễn ra bởi quá trình đàm phán đã được thực hiện tích cực thời gian qua.

Cũng theo ông Nghĩa, với mạng lưới rộng, sự hiểu biết thị trường trong nước kết hợp với trình độ quản trị ngân hàng tiên tiến trên thế giới, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng sẽ sớm nâng lên và việc trụ lại trên thị trường khi mở cửa là điều không quá khó đối với các ngân hàng Việt Nam.

Link Site
 
Lien he quang cao