Bộ Nông nghiệp tìm cách ổn định giá vật tư
Trong buổi chất vấn chiều 9/6, Bộ trưởng Cao Đức Phát nhận được nhiều ý kiến thắc mắc giá vật tư quá cao, cuộc sống của người dân khi bị thu hồi đất, các dự án kinh tế kém hiệu quả và cơ chế chưa thuận lợi cho việc bảo vệ rừng. Ông Phát thừa nhận trách nhiệm điều hành chưa sâu sát.
 |
| Bộ trưởng Cao Đức Phát. Ảnh: A.T. |
Đề cập đến tình hình cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, đại biểu Vũ Minh Mão cho biết cử tri than phiền chi phí đầu vào cho cây lúa ở Bắc Bộ mất khoảng 50%, chương trình tạo giống lúa lai đã triển khai 10 năm song họ vẫn phải mua tới gần 30.000 đồng/kg.
Theo Bộ trưởng Phát, mỗi năm cả nước cần hơn 2 triệu tấn phân bón, trong đó nhu cầu vụ hè thu hơn 530.000 tấn. Trong tháng 4 và 5 lượng tồn kho hơn 300.000 tấn, cộng với phần trong nước sản xuất được, chỉ cần nhập khoảng 50.000 tấn. Một số công ty đã nhập khẩu trên 200.000 tấn. Tuy nhiên thời gian qua xuất hiện các thông tin thiếu chính xác về nguy cơ thiếu phân bón gây tâm lý lo ngại cho nông dân, khiến các cơ quan chức năng phải cải chính lại. Về giống cây lương thực, để hạn chế phụ thuộc vào giống lúa nhập ngoại, Bộ đã đầu tư một số dự án tạo giống lúa mới đang có hiệu quả tốt. Tuy nhiên Bộ trưởng thừa nhận chưa quản lý tốt giá vật tư bán tại các địa phương, gây ra tình trạng lên xuống thất thường. Tuy cơ quan chức năng đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra chất lượng nhưng thiếu chế tài xử lý nghiêm.
Đời sống của nông dân bị thu hồi đất phục vụ sản xuất công nghiệp được rất nhiều đại biểu quan tâm. Đại biểu Đỗ Trọng Ngoạn ước tính, mới có 13 tỉnh thực hiện thu hồi đất đã có hơn 300.000 khẩu khó khăn, trong khi đất bị thu hồi mới sử dụng 45%. "Bộ trưởng có biết có nơi bố mẹ không nhận tiền thu hồi đất con không được đi học đại học?", ông Ngoạn chất vấn. Bộ trưởng Phát cho rằng chủ trương thu hồi đất là đúng, nhằm phục vụ công nghiệp hóa đất nước, nhưng quả thật có những vùng doanh nghiệp chỉ thu nhận 3-5% lao động ở địa phương. Bộ trưởng nói: "Quan điểm của chúng tôi là ngoài đền bù cần có phương án cụ thể tạo việc làm cho lao động nông thôn thông qua phát triển dịch vụ ngành nghề tại chính khu vực".
Có ý kiến đề cập chủ trương liên kết 4 nhà (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước) thực tế không phát huy được hiệu quả, mới đạt 30% so với kế hoạch, trong đó có nhiều hợp đồng hình thức. Nguyên nhân chính của tình trạng này, theo giải trình của ông Phát là do doanh nghiệp ngần ngại ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân, vì ruộng đất manh mún khó tập trung, các hợp tác xã làm trung gian chưa phát huy vai trò, kiện tụng tranh chấp đôi khi vẫn xảy ra mà chưa có chế tài xử lý.
Tình trạng chặt phá rừng và chống người thi hành công vụ theo Bộ trưởng Phát đã đến mức báo động và gia tăng mạnh trong 5 tháng qua với hơn 1.900 vụ. Trong khi các chương trình trồng rừng phòng hộ do có vốn ngân sách rót nên thực hiện đúng tiến độ, thì trồng rừng kinh tế mới chỉ đạt 50% so với kế hoạch 1998-2005 do cả doanh nghiệp và người dân không mặn mà bỏ vốn ra đầu tư. Theo đại biểu Nguyễn Văn Tuyết, định mức khoán bảo vệ 1 ha rừng có 50.000 đồng, số diện tích được khoán thấp hơn thực tế khiến người nhận khoán khó khăn. Ở một số địa phương khác, đại biểu lại phản ánh một cán bộ kiểm lâm được giao chăm sóc tới hơn 1.000 ha rừng là quá cao. Những vấn đề này Bộ trưởng hứa sẽ xem xét kiến nghị Chính phủ sửa đổi nếu cần thiết.
Trong buổi chiều, một số đại biểu đề nghị Bộ trưởng cho biết trách nhiệm cá nhân về dự án nhà máy mía đường ở Quảng Nam hiện phải đóng cửa hoạt động, hàng trăm hộ nông dân không tìm được đầu ra cho cây mía. Trước diễn đàn Quốc hội, ông Phát nhận trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn trong việc để dự án lãng phí, nhưng theo bộ trưởng, Quảng Nam không phù hợp cho vùng nguyên liệu mía đường, vì thế tới đây sẽ phải có giải pháp cho nhà máy này.
Đây là lần đầu tiên bộ trưởng Phát trả lời chất vấn Quốc hội kể từ khi được bổ nhiệm vào cuối năm 2004.
Phong Lan