Thứ sáu, 11/2/2005, 06:00 GMT+7

Xác lập lại thế đứng Việt Nam

Trong ASEAN, Việt Nam được xếp chung với Campuchia, Lào, Myanmar, nhóm các thành viên mới có trình độ phát triển thấp, cần được cộng đồng thế giới giúp đỡ. Nhưng khi bàn về tiềm năng, Việt Nam lại được xếp ngang hàng với Thái Lan, thậm chí một số trường hợp được bàn chung với Trung Quốc.

Việt Nam có nhiều tiềm năng. Ảnh: Anh Tuấn

Trên thực tế, quy mô kinh tế của Việt Nam hiện nay còn nhỏ. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2004 khoảng 40 tỷ USD, xấp xỉ bằng một nửa Philippines, một phần ba Malaysia, một phần tư Thái Lan và chỉ bằng 6% so với Hàn Quốc. Mặc dù một số mặt hàng xuất khẩu như quần áo, cà phê, gạo… đã có một ảnh hưởng nhất định trên thị trường thế giới, nhưng quy mô kinh tế của Việt Nam còn quá nhỏ nên ít được thế giới chú trọng. Những dự báo kinh tế ngắn hạn của nhiều viện nghiên cứu nước ngoài thường không kể đến Việt Nam trong mục phân tích tình hình từng nước. Khi thảo luận về ASEAN, người ta cũng có khuynh hướng xếp Việt Nam chung với Campuchia, Lào, Myanmar và gọi là nhóm CLMV để chỉ những thành viên mới, trình độ phát triển còn thấp, cần được cộng đồng thế giới giúp đỡ.

Nhưng đó là nói về vị trí của Việt Nam hiện nay. Còn khi bàn về tiềm năng thì khác: Việt Nam được xếp ngang hàng với Thái Lan, thậm chí trong một số trường hợp được bàn chung với Trung Quốc. Chẳng hạn, điều tra của tờ báo kinh tế Nhật Nikkei cho thấy cùng với Trung Quốc và Thái Lan, Việt Nam được xem là một trong ba "căn cứ" sản xuất hàng công nghiệp mạnh nhất của châu Á trong tương lai. Điều tra của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật (JBIC) công bố vào tháng 11/2004 liên quan đến sự đánh giá của các công ty đa quốc gia Nhật về những thị trường đầu tư mà họ xem là có triển vọng cũng cho thấy một kết quả rất phấn khởi. Việt Nam được xếp thứ tư sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan. Điều tra của JBIC một năm trước đó cũng cho thấy Việt Nam được xếp thứ tư.

Xét về quy mô dân số, với 82 triệu dân, Việt Nam xếp thứ 13 trong gần 200 nước trên thế giới. Quy mô dân số này cho phép phát triển đồng loạt nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ, dễ đạt quy mô sản xuất hiệu quả và dễ tạo hiệu ứng ngoại vi lẫn nhau. Hơn nữa, nhiều công ty đa quốc gia sản xuất cho thị trường Việt Nam trong thời gian qua có nhận xét là giới tiêu dùng ở Việt Nam rất khắt khe về phẩm chất, luôn đòi hỏi cải tiến chất lượng và kiểu dáng sản phẩm. Một khi các yếu tố khác không thay đổi, quy mô dân số lớn và khuynh hướng chuộng chất lượng của người tiêu dùng dễ làm cho hàng hóa sản xuất tại Việt Nam có sức cạnh tranh cả về giá thành và phẩm chất. Ngoài ra, trong tương lai, khi kinh tế phát triển cao hơn, với quy mô dân số của mình, Việt Nam sẽ có một nền kinh tế lớn và có vị trí đáng kể trên thế giới.

Nguồn lao động lớn chưa sử dụng hoặc sử dụng chưa hiệu quả đang trở thành vấn đề xã hội, nhưng tình hình này cũng cho thấy một khi nguồn lao động này được tận dụng thì nền kinh tế sẽ phát triển nhanh và ổn định. Nhiều công ty đa quốc gia đánh giá lao động Việt Nam khéo tay, hiểu biết nhanh so với lao động nhiều nước khác. Theo kết quả điều tra nói trên của JBIC, "đội ngũ lao động ưu tú" là một trong ba lý do được các công ty lớn của Nhật nêu ra khi đánh giá cao tiềm năng của Việt Nam. Lao động này nếu được kết hợp với công nghệ và tri thức quản lý, kinh doanh tiên tiến sẽ biến thành một lực lượng sản xuất to lớn. Năng lực của giới trẻ cũng ngày càng cho thấy Việt Nam có tiềm năng phát triển các ngành công nghệ thông tin, các ngành có hàm lượng tri thức cao.

Sự dồi dào về các nguồn tài nguyên nông, lâm, thủy sản, khoáng sản là một tiềm năng không nhỏ. Các nguồn tài nguyên tự nó không phải là sức mạnh nhưng nếu được sử dụng hiệu quả, nhất là luôn có chiến lược, chính sách tăng thêm giá trị, thì nó sẽ là một thuận lợi to lớn. Các tài nguyên này còn bảo đảm an toàn lương thực cho một nước đông dân đẩy mạnh hơn quá trình công nghiệp hóa.

Điều kiện địa lý cũng quan trọng không kém: Việt Nam nằm giữa vùng phát triển năng động Đông Á và có bờ biển dài gần 3.000 km, có thể tiến hành hiệu quả các hoạt động giao thương quốc tế. Sự ổn định xã hội, chính trị tạo tiền đề để các chính sách, chiến lược vạch ra được thực hiện cũng như để tạo dựng niềm tin về môi trường đầu tư.

Các yếu tố này nếu được phát huy thì các tiềm năng sẽ trở thành lực lượng sản xuất thực sự và kinh tế Việt Nam có thể phát triển trung bình 9-10% mỗi năm trong một thời gian dài. Điều kiện đủ để phát huy được tiềm năng là nhanh chóng khắc phục những cái yếu ở cơ chế rườm rà, chậm chạp liên quan đến việc hoạch định chiến lược, chính sách và trong bộ máy quản lý nhà nước kém hiệu suất.

Có thể lấy trường hợp của Thái Lan làm bài học để phân tích. Trước áp lực cạnh tranh của Trung Quốc và những thách thức do toàn cầu hóa, khu vực hóa mang đến, Thái Lan đã vạch ra chiến lược tăng sức cạnh tranh. Tháng 5/2002, Thái Lan lập Ủy ban Tăng cường cạnh tranh quốc gia do chính thủ tướng đứng đầu, mời cả chuyên gia nước ngoài tham gia bàn bạc, thảo luận và tháng 10/2003 đưa ra bản báo cáo 600 trang phân tích cụ thể mặt mạnh, mặt yếu, chiến lược và biện pháp thực hiện rất cụ thể. Bộ máy hành chính cũng bắt tay ngay vào việc triển khai và thực hiện các biện pháp. Trong chiến lược này, Thái Lan đã định ra năm lĩnh vực có thể cạnh tranh với thế giới: xe hơi, thực phẩm, thời trang, du lịch và phần mềm máy tính. Họ xác định hai biện pháp cần đẩy mạnh để thực hiện là tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và triển khai các hiệp định mậu dịch tự do (FTA). Gần đây, ta đã thấy các chính sách đối ngoại và hoạt động của các nhà lãnh đạo Chính phủ Thái Lan đều dành thời gian xúc tiến thu hút FDI và FTA. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, FDI vào Thái Lan chững lại, nhưng từ hai năm nay đã tăng và các công ty đa quốc gia tiếp tục đánh giá cao tiềm năng của nước này. Thái Lan cũng đã tích cực tranh thủ ngay những cam kết trong khuôn khổ FTA giữa Trung Quốc và ASEAN và đã đạt thành quả trong việc đẩy mạnh xuất khẩu nông phẩm sang Trung Quốc.

So với Thái Lan, rõ ràng quá trình hoạch định chiến lược, chính sách của Việt Nam còn chậm và mất nhiều thì giờ bàn bạc, thảo luận. Chiến lược, quốc sách hàng đầu được định ra nhưng chưa thực hiện hiệu quả. Nhiều chính sách khi bắt tay thực hiện thì lại có sự chồng chéo giữa các bộ, ngành. Đặc biệt, chính sách về kinh tế của Việt Nam hay thay đổi cũng làm nản lòng các nhà đầu tư. Những điểm yếu này nếu không khắc phục sẽ hạn chế khả năng của Việt Nam. Nếu khắc phục được, sẽ có sự thay đổi lớn trong năm Ất Dậu và trong 5-7 năm tới, Việt Nam sẽ có một vị trí khác hẳn trên bản đồ kinh tế châu Á và thế giới.

(Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn)

Link Site

Tra cứu cổ phiếu

  • Diễn biến thị trường
  • HOSE
  • HNX

Thay đổi: -2.85-0.71%

Thay đổi từ đầu năm: 13.05%

Tổng KLGD: 45,757,977(cp)

Tổng GTGD: 792(tỷ)

Thay đổi: -1.33-2.16%

Thay đổi từ đầu năm: 2.5%

Tổng KLGD: 35,929,616(cp)

Tổng GTGD: 310(tỷ)

Detail
    • HOSE

    • HNX

    •  
    • Mã CK

    •  
    • TC

    •  
      • Khớp lệnh
      •  
      • Giá
      •  
      • KL
    •  
    • +/-

    •  
    •  
    •  
    •  
    • (Bấm vào nội dung bảng để xem chi tiết)

    •  
  •  
Vinaphone
Năm 2010 Năm 2010 Năm 2010
Năm 2009
 
 
 
 
Lien he quang cao