Thứ sáu, 26/11/2004, 04:06 GMT+7

'Chính sách kinh tế cần tính tới yếu tố môi trường'

Giáo sư
Giáo sư Joseph F. Stiglitz

Lần thứ 4 Giáo sư Joseph E. Stiglitz trở lại Việt Nam, song các bài thuyết trình của ông vẫn mới mẻ và vô cùng hấp dẫn với giới trí thức trẻ tuổi. Hơn 3 tiếng đồng hồ tại Nhà hát lớn Hà Nội sáng nay dường như vẫn chưa đủ để sinh viên thủ đô trao đổi với vị chủ nhân giải Nobel kinh tế 2001 về những vấn đề họ quan tâm. 

- Giáo sư nhận xét thế nào về sự phát triển kinh tế mấy năm gần đây của VN?

- Những năm qua, VN đã đạt được sự phát triển khá nhanh chóng. Xuất khẩu hàng hoá không ngừng tăng lên, công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, nhìn chung bức tranh nghèo đói của VN vẫn tương đối khắc nghiệt tại một số nơi, đặc biệt là vùng xa. Và xu hướng phát triển chênh lệch này vẫn đang có nguy cơ gia tăng trong thời gian tới.

- Vậy VN nên làm thế nào để đảm bảo phát triển bền vững?

- Có thể nói VN đang tiến vào giai đoạn phát triển mà những tác động đối với môi trường ngày càng tăng. Trong khoảng 10-15 năm tới, số người sử dụng xe hơi sẽ tăng lên, các khu công nghiệp cũng mọc lên nhanh chóng. Điều đó tạo ra một áp lực rất lớn đối với môi trường, nếu không có những biện pháp ngay từ bây giờ thì hậu quả của nó sẽ khôn lường, và VN không thể đạt được sự phát triển bền vững. Do vậy, điều quan trọng là trong những chính sách kinh tế của mình, VN cần tính đến yếu tố bền vững môi trường. Bên cạnh đó, Chính phủ VN cũng nên có những chính sách có tính bao quát đến tất cả các vùng, miền để tránh sự phát triển chênh lệch như trên... 

Mục tiêu của VN là sẽ ra nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong năm tới. Vậy theo giáo sư, VN sẽ gặp phải những thách thức lớn gì sau khi trở thành thành viên của tổ chức này?

- Thách thức thì nhiều, nhưng theo tôi có hai vấn đề mà VN cần phải quan tâm. Thứ nhất, là VN sẽ bị yêu cầu về việc phải mở cửa hơn nữa khu vực tài chính đặc biệt là ngân hàng. Để tránh được những rủi ro có thể xảy ra, hệ thống ngân hàng VN cần phải lành mạnh hoá và phải xử lý tốt các khoản nợ khó đòi. Bên cạnh dó, phải có những yêu cầu linh hoạt trong việc cho vay, và mở các chi nhánh tại nhiều nơi trên cả nước nhằm đảm bảo dòng tài chính "chảy" trong toàn bộ nền kinh tế, kể cả những vùng sâu, vùng xa. Thách thức thứ hai, gia nhập WTO có nghĩa VN sẽ tham gia vào hệ thống thương mại tự do (hay còn gọi là toàn cầu hoá), đi liền với nó sẽ những bất bình đẳng xã hội tăng lên. Việc làm cần thiết hiện nay là VN phải chuẩn bị các phương án an sinh xã hội nhằm tránh những bạo loạn có thể xảy ra.

 - Xin giáo sư nói rõ hơn ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại?

- Có thể nói, ảnh hưởng của tự do hoá thương mại không rõ ràng như chúng ta nghĩ. Một nghiên cứu gần đây của UNDP cho thấy tự do hoá thương mại và tăng trưởng kinh tế không có mối quan hệ mang tính hệ thống. Nói một cách đơn giản thì tự do hoá thương mại không đảm bảo rằng tăng trưởng sẽ xảy ra. Chẳng hạn như Mexico, cách đây 10 năm nước này đã ký với Mỹ Hiệp định tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Tưởng rằng khi có NAFTA kinh tế Mexico sẽ phát triển nhanh chóng hơn. Nhưng tốc độ tăng trưởng của nước này đã chậm lại, tiền lương thực tế đã giảm xuống, và khoảng cách kinh tế giữa hai nước ngày càng xa hơn. Như vậy có thể thấy rằng, dù là hiệp định thương mại tự do song thực tế lại không hề có "tự do". Bởi một mặt Mỹ cam kết xoá bỏ thuế quan nhưng mặt khác lại dựng lên những rào cản phi thuế quan khác.

Một điểm nữa như tôi đã nói ở trên là tự do hoá thương mại thường kéo theo sự bất bình đẳng xã hội bởi nó có thể làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo thì lại nghèo hơn nữa.

- Vậy phải làm gì để toàn cầu hóa thương mại mang lại lợi ích?

- Theo tôi trước hết cần phải đa dạng hoá, tránh tình trạng bị phụ thuộc vào một thị trường hay một sản phẩm nào. Đồng thời phải suy nghĩ về các lợi thế so sánh động - tức là phải có sự định hướng về tương lai. Hàn Quốc là một ví dụ. Cách đây 35 năm, nước này được đánh giá là có lợi thế cạnh tranh về lúa, gạo. Khi ấy nhiều chuyên gia đã khuyên Hàn Quốc chỉ nên chú trọng vào lĩnh vực này, không cần phải nghĩ đến công nghệ cao hay máy móc... Tuy nhiên, Chính phủ Hàn Quốc đã sáng suốt nhận ra rằng, ngay cả khi họ rất thành công với lúa, gạo thì họ vẫn là một nước nghèo, và họ đã đưa ra những chiến lược với tầm nhìn xa hơn trong 20-30 năm sau. Giờ thì chúng ta thấy Hàn Quốc đã trở thành một cường quốc kinh tế lớn và có ảnh hưởng trên thế giới.

Một điểm quan trọng nữa là việc tìm ra những thị trường nhỏ, thị trường "ngách" mới để phát huy. Ví dụ như những lĩnh vực có sản phẩm chất lượng cao và mình có ưu thế. Bởi vì theo xu hướng hiện nay, một sản phẩm có thể được sản xuất tại nhiều quốc gia khác nhau trong hệ thống thương mại thế giới. Bên cạnh đó, cũng phải nghĩ tới các đồng minh chiến lược. Quan hệ thương mại với Mexico như là một kênh để thâm nhập thị trường Mỹ là một ví dụ.

Để đảm bảo toàn cầu hoá mang lại lợi ích, các nước cũng cần phải học cách đàm phán "rắn". Phải nhận thức được rằng, các hiệp định thương mại tự do chỉ cung cấp các khuôn khổ đàm phán chứ không phải các hiệp định thương mại thực sự tự do. Cũng phải nhận rõ rằng, vị thế của các nước công nghiệp phát triển và đặc biệt là Mỹ không dựa vào các nguyên tắc, mà vào sự theo đuổi các quyền lợi thương mại và tài chính của họ. Do vậy, khi đàm phán, vấn đề nào không thể nhân nhượng thì không nhân nhượng.

- Gần đây, các hiệp định thương mại tự do đưa ra thêm các điều kiện gây khó khăn cho phát triển như Hiệp ước sở hữu trí tuệ. Ông bình luận gì về chuyện này?

- Hiện nay trong khuôn khổ của WTO có nói về Hiệp định sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực thương mại (TRIPS). Tuy nhiên, các nước và cả Mỹ đều nhận ra rằng, các điều khoản của TRIPS có chỗ không công bằng và cản trở sự phát triển. Nhận thức được vấn đề này, tại Geneva (Thuỵ Sỹ), người ta đã yêu cầu phải thiết kế một chế độ sở hữu trí tuệ hướng tới phát triển nhiều hơn nữa.

VN phải làm gì để có thể hội nhập thành công vào hệ thống thương mại toàn cầu?

- Theo tôi để hội nhập thành công đòi hỏi không chỉ tận dụng các cơ hội mà còn phải biết giải quyết các thách thức đặt ra từ quá trình toàn hoá. Đồng thời phải thấm nhuần các bài học thành công và thất bại của các nước đang phát triển khác.

Kiều Giang ghi

Link Site

Tra cứu cổ phiếu

  • Diễn biến thị trường
  • HOSE
  • HNX

Thay đổi: -0.9-0.23%

Thay đổi từ đầu năm: 12.79%

Tổng KLGD: 34,806,748(cp)

Tổng GTGD: 656(tỷ)

Thay đổi: 0.370.61%

Thay đổi từ đầu năm: 3.13%

Tổng KLGD: 32,320,900(cp)

Tổng GTGD: 265(tỷ)

Detail
    • HOSE

    • HNX

    •  
    • Mã CK

    •  
    • TC

    •  
      • Khớp lệnh
      •  
      • Giá
      •  
      • KL
    •  
    • +/-

    •  
    •  
    •  
    •  
    • (Bấm vào nội dung bảng để xem chi tiết)

    •  
  •  
Vinaphone
Năm 2010 Năm 2010 Năm 2010
Năm 2009
 
 
 
 
Lien he quang cao