Thứ sáu, 10/9/2004, 05:23 GMT+7

Ngành thép quyết không bán hàng kiểu đại lý hoa hồng?

Sản xuất thép tại nhà máy Hoà Phát. Ảnh: Anh Tuấn

Tất cả các doanh nghiệp trong ngành đã thống nhất quan điểm này tại cuộc họp góp ý xây dựng dự thảo Quy chế kinh doanh thép sáng nay. Theo họ, nếu thực hiện mô hình phân phối này giá thép hoặc sẽ cao hơn hoặc nhà sản xuất buộc phải phá sản.

Ông Đinh Văn Vì, Giám đốc liên doanh thép Việt - Ý, lập luận, thép là mặt hàng có giá trị doanh thu hằng năm lớn, nếu công ty ông có sản lượng 150.000 tấn/năm thì doanh thu bán hàng khoảng 1.200 tỷ đồng. Với sản lượng này các nhà máy cần lượng vốn lưu động thường xuyên khoảng 400 tỷ đồng, phần lớn số tiền nhà máy đều phải vay ngân hàng, do vậy áp lực bán hàng, thu hồi vốn rất lớn. Dù muốn hay không họ đều phải tìm đến các nhà thương mại có vốn lớn, khả năng thanh toán tốt và thông thường là các đại lý bao tiêu.

Ông Vì lấy dẫn chứng, hiện nay có khoảng 500 cửa hàng tham gia tiêu thụ thép Việt - Ý và khoảng 100 cửa hàng kinh doanh không thường xuyên khác. Giả sử toàn bộ cửa hàng này là của công ty, với sản lượng bán ra bình quân 12.500 tấn/tháng, chi phí lưu thông chưa kể vận tải sơ sơ cũng hơn 5 tỷ đồng, bình quân mỗi tấn thép hơn 400.000 đồng. Trong khi đó, thép Việt - Ý bán hàng thông qua nhà phân phối thì chênh lệch giá bán tại cửa hàng và nhà máy chỉ khoảng 250.000 đồng/tấn.

Cùng quan điểm tương tự, Phó giám đốc Công ty thép Việt Hàn quả quyết, nếu nhà sản xuất trực tiếp bán thép cho các công trình xây dựng, với thực trạng nợ đọng như hiện nay để quyết toán được một dự án có khi phải mất hằng năm. Doanh nghiệp chỉ có nước phá sản nếu lúc ấy mới thu hồi được vốn.

Mục đích dự thảo của Bộ Thương mại đưa ra nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ, tuy nhiên với đặc thù của ngành thép các doanh nghiệp cho rằng khó có thể khẳng định có hiện tượng găm hàng hay không. Ông Nguyễn Ngọc Bình, Giám đốc Công ty Kim khí TP HCM phân tích, để đầu cơ cần một lượng vốn rất lớn. Chẳng hạn, để mua 90.000 tấn thép, nhà phân phối phải bỏ ra khoảng 720 tỷ đồng, số tiền này không một công ty nào có khả năng hoặc nếu có cũng không dám mạo hiểm vì giá thép biến động rất nhanh.

Quy định duy trì mức tồn kho bằng mức bán ra của 5 ngày theo các nhà sản xuất là bất hợp lý vì có lúc họ cần bán hàng với khối lượng lớn để thu hồi vốn hoặc chiếm lĩnh thị trường. Nếu các đại lý phải duy trì mức tồn kho này thì mỗi lần nhập hàng sẽ có khối lượng ít và đơn giá vận chuyển sẽ đội lên cao.

Trước khi đưa ra dự thảo, Bộ Thương mại đã tham khảo mô hình tổ chức các ngành hàng khác như xi măng, mỹ phẩm, xăng dầu... Tuy nhiên, các nhà sản xuất phản đối rằng thép xây dựng không phải là ngành hàng kinh doanh có điều kiện như vậy. Hiện nay, giá thép phụ thuộc nhiều vào giá phôi thế giới, quá nhiều biện pháp hành chính can thiệp sẽ đưa nền kinh tế trở lại đặc điểm của những năm 80 và giá cả vẫn không thể thấp vì giá trị phôi chiếm tới 87% giá thành phẩm.

“Quy chế này là một chế tài đối với hoạt động kinh doanh, là một văn bản dưới luật. Vì thế, nó không được trái với Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư. Chúng tôi hy vọng rằng Bộ Thương mại cần cân nhắc kỹ khi đưa ra một quy chế như vậy vì nếu trái luật doanh nghiệp sẽ không thực hiện”, ông Phạm Chí Cường, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép tổng kết.

Đại diện Bộ Thương mại, bà Lê Thị Kim Ngân, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thị trường trong nước chỉ tham dự khoảng 10 phút đầu cuộc họp. Bà Ngân cho biết, dự thảo vẫn trong quá trình xây dựng và những ý kiến của doanh nghiệp sẽ được ghi nhận và xem xét để Bộ có thể đưa ra những điều chỉnh hợp lý. Dự kiến, đầu tuần tới, cơ quan này sẽ tổ chức họp với các nhà phân phối thép để thu thập ý kiến.

Trước đây, Bộ Công nghiệp cũng đệ trình Chính phủ một bản dự thảo Quy chế kinh doanh thép xây dựng, bà Ngân cho hay sau khi dự thảo của Bộ Thương mại hoàn thiện, liên bộ sẽ ngồi lại với nhau để thống nhất và bổ sung nhằm cho ra đời một bản quy chế hợp lý nhất.

Phong Lan

Link Site

Tra cứu cổ phiếu

  • Diễn biến thị trường
  • HOSE
  • HNX

Thay đổi: -2.85-0.71%

Thay đổi từ đầu năm: 13.05%

Tổng KLGD: 45,757,977(cp)

Tổng GTGD: 792(tỷ)

Thay đổi: -1.33-2.16%

Thay đổi từ đầu năm: 2.5%

Tổng KLGD: 35,929,616(cp)

Tổng GTGD: 310(tỷ)

Detail
    • HOSE

    • HNX

    •  
    • Mã CK

    •  
    • TC

    •  
      • Khớp lệnh
      •  
      • Giá
      •  
      • KL
    •  
    • +/-

    •  
    •  
    •  
    •  
    • (Bấm vào nội dung bảng để xem chi tiết)

    •  
  •  
Vinaphone
Năm 2010 Năm 2010 Năm 2010
Năm 2009
 
 
 
 
Lien he quang cao