Thứ năm, 8/4/2004, 05:31 GMT+7

Khu bảo tồn không bảo tồn được nhiều loài quý hiếm

Loài ếch tai đen (trên) và vẹt tai vàng (dưới) là 2 trong số 300 loài có nguy cơ tuyệt chủng không được bảo vệ.

Tin tốt lành là hơn 1/10 mặt đất trên hành tinh chúng ta đã được khoanh vùng làm nơi trú ngụ cho các loài hoang dã. Nhưng theo một nghiên cứu mới đây, rất nhiều loài nguy cấp lại không thực sự sống trong các khu vực đó.

Các tác giả của công trình này đang kêu gọi khẩn cấp xem xét những chiến lược bảo tồn toàn cầu. Họ tin rằng các công viên quốc gia và khu bảo tồn hoang dã, dù lớn đến đâu, cũng không ngăn được sự tuyệt diệt trên quy mô lớn trong những thập kỷ tới, nếu chúng không được lập ở đúng nơi đúng chỗ.

Nghiên cứu, với sự tham gia của 21 nhà khoa học từ 9 quốc gia (Australia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Italy, Kenya, Nam Phi, Anh và Mỹ) đã tìm hiểu hiệu quả của các khu bảo tồn trong việc bảo vệ tính đa dạng loài.

Sau khi đánh giá 11.633 loài lưỡng cư, chim, thú và rùa, các nhà khoa học đã xác định được hơn 300 loài động vật cực kỳ nguy cấp sống hoàn toàn bên ngoài các khu bảo tồn. Bị bơ vơ trong thế giới hoang dã, chúng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cực lớn. Thêm vào đó, 237 loài nguy cấp và 267 loài dễ bị tổn thương khác cũng hoàn toàn không được bảo vệ trong lãnh địa của chúng.

Cứ 10 năm một lần, Hiệp hội bảo tồn thế giới (IUCN) lại tổ chức hội thảo quốc tế về công viên quốc gia và các khu bảo tồn để kiểm kê lại các khu vực này, đánh giá tiến bộ và những suy thoái. Tại hội thảo lần thứ tư tổ chức năm 1992 ở Caracas, Venezuela, các quốc gia đã đặt mục tiêu mở rộng mạng lưới khu bảo tồn trên trái đất lên ít nhất 10% các hệ sinh thái lớn vào năm 2000. Và trong hội thảo lần 5, diễn ra năm ngoái tại Durban, Nam Phi, người ta tuyên bố rằng mạng lưới bảo vệ này hiện đã phủ trên 11,5% diện tích đất liền, và 9 trong 14 hệ sinh thái lớn trên cạn đã vượt xa mục tiêu đề ra.

Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây cho biết thành tựu này có được là do các nước chỉ tập trung quây rào những hệ sinh thái không có người ở và có giá trị kinh tế thấp. Trong khi, rất nhiều điểm nóng đa dạng sinh học lại lọt ra ngoài hàng rào đó.

Một ví dụ điển hình là Công viên quốc gia Greenland, được xem như công viên quốc gia lớn nhất thế giới (972.000 km2) - rộng hơn cả diện tích nước Anh và Pháp cộng lại. Một mình nó đã chiếm hơn 6% tổng diện tích các khu vực bảo tồn trên toàn cầu. "Không phủ nhận tầm quan trọng của công viên này, song thực sự nó đóng góp rất ít vào đa dạng sinh học toàn cầu", Ana Rodrigues, một đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết.

Rodrigues cho biết đó là vì vùng Bắc cực rất nghèo nàn số loài tự nhiên - công viên chỉ vẻn vẹn có 8 loài thú, trong khi lưỡng cư, rùa nước ngọt hay các loài chim bị nguy cấp hoàn toàn vắng bóng ở đây.

Ngược lại, công viên núi Kinabalu, ở phía bắc Borneo, nhỏ hơn công viên quốc gia Greenland hàng nghìn lần với diện tích vỏn vẹn 800 km2, nhưng có tới 153 loài thú (21 loài thuộc diện nguy cấp trên toàn cầu), 17 loài chim nguy cấp trên toàn cầu, 74 loài lưỡng cư (14 nguy cấp) và 8 loài rùa nước ngọt (với 6 loài nguy cấp).

Rodrigues cho biết những vùng như vậy không nhất thiết phải áp dụng các biện pháp bảo vệ, nhưng cần được mở rộng diện tích khẩn cấp. Chúng phần lớn nằm ở các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới, và chồng lấn lên những vùng đông dân cư.

"Hầu hết các hệ sinh thái nguyên thuỷ đã bị phá hủy, và chỉ khoảng 7% là còn sót lại, chủ yếu là những mảnh nhỏ rải rác. Những vùng như vậy cần được bảo tồn cấp thiết", Rodrigues nói.

Bích Hạnh (theo National Geographic)

Link Site
 
Tin hot
 
 
 
Lien he quang cao