Yếu tố di truyền và nguy cơ phạm tội
Ngay từ thế kỷ 19, chuyên gia tâm thần học người Italy Trezare Lombrozo đã phát hiện hộp sọ của những kẻ phạm tội có kích thước to hơn người bình thường. Từ kết quả những nghiên cứu sau đó, ông đi đến nhận định: Con người có khuynh hướng phạm tội hình sự hay không chủ yếu do di truyền quyết định.
Theo bác sĩ Valerie Vasiliev, chuyên gia sinh hóa hàng đầu của Đại học quốc gia Altaiski, Nga, thì cơ sở của hành vi bạo lực nằm trong vấn đề sinh lý, chủ yếu do quá trình trao đổi chất trong cơ thể diễn ra quá nhanh. Có đến khoảng 20 loại hoóc môn hoạt động đồng thời với một cường độ đặc biệt - một hiện tượng mà hầu như không có ở người bình thường. Chưa hết, những đối tượng có nguy cơ phạm tội bạo lực thường có chỉ số thông minh IQ thấp hơn mức trung bình 10 điểm.
Chuyên gia sinh hóa Wolt Wolch ở Viện tâm thần Hoàng gia London thì phát hiện thấy một hàm lượng bất thường các nguyên tố hóa học trong cơ thể của những kẻ phạm tội: hàm lượng liti thấp, coban thiếu trầm trọng, trong khi chì và cadmi lại quá cao. Theo ông, chính điều này đã gây xáo trộn tâm trạng của chủ thể và đưa đến những hành động không tự kiềm chế được.
Câu trả lời chỉ thực sự bắt đầu khi một phụ nữ Hà Lan đến tham vấn chuyên gia về di truyền học Hans Brunner ở ĐH Wisconsin (Mỹ) rằng liệu bà có nên sinh con trai, bởi lịch sử gia đình bà là một chuỗi những bản án (dường như) có tính kế thừa về các tội phạm hình sự. Hầu như không thành viên nào trong họ tộc không phạm tội, nếu không trộm cắp, cướp của, gây thương tích cho người khác thì cũng hiếp dâm và thậm chí giết người… Sau một thời gian nghiên cứu kỹ các dữ kiện về phả hệ, đặc biệt là về di truyền, bác sĩ Brunner đã phát hiện lịch sử gia đình người phụ nữ này vốn thừa kế một gene khiếm khuyết, dẫn đến tình trạng sản sinh một số lượng thái quá loại enzyme có tên monoamine oxidase-A. Kết quả của sự rối loạn này là gây ra một sự hủy diệt rất lớn các vật chuyển tải xung lực thần kinh (nerotransmitters) vốn có chức năng giúp chúng ta có được sự bình tĩnh, thư giãn và cảm giác hạnh phúc.
Theo các chuyên gia tâm thần học ở Viện thần kinh hoàng gia London, khoảng 1/3 dân số có cấu trúc di truyền liên quan đến mức độ hoạt động thái quá của loại enzyme monoamine oxidase-A. Nếu chúng ta thiếu quan tâm, chăm sóc những đứa trẻ có cấu trúc gene dạng này ngay từ thủa thiếu thời, nguy cơ chúng trở thành tội phạm khi trưởng thành là rất cao.
Nhà tâm lý học Richard Davidson ở Đại học Wisconsin cũng nhận thấy bộ não của những kẻ phạm tội thường không được đối xứng mà có xu hướng lệch nghiêng. Chụp cắt lớp não của 500 hung thủ giết người và so sánh với não người thường, ông nhận thấy sự khác biệt có tính lặp lại trong một số vùng của bán cầu đại não, trong khi khu vực bên dưới vỏ đại não là vùng quyết định bản chất của bản thể. Phát hiện này đem lại hy vọng cho giới chuyên môn có thể sớm tìm ra tội phạm tiềm ẩn và xa hơn, là đề xuất những giải pháp chữa trị.
Một nghiên cứu khác lại cho thấy sự ảnh hưởng cộng hợp của yếu tố di truyền và môi trường. Vào khoảng giữa năm ngoái, Đại học Wisconsin đã thông báo kết quả một nghiên cứu kéo dài 25 năm trên 400 nam học sinh, từ việc thu thập ADN của các đối tượng này và ghi nhận những hành vi lặp lại thường xuyên trong những giai đoạn nhất định của quá trình phát triển. Họ phát hiện thấy một tuổi thơ sớm bị ngược đãi cũng góp phần làm phát sinh hành vi tội phạm ở tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, những đứa trẻ bị đột biến về di truyền (chủ yếu là loại gene khiếm khuyết nói trên), cùng với một quá khứ đầy rẫy những hình ảnh bạo lực, sẽ có nguy cơ phạm tội cao hơn nhiều, tới 85%.
Theo giáo sư Terrie Moffit, những yếu tố di truyền như tình trạng dễ xúc cảm hay quá mẫn cảm trước bệnh lý có vai trò không nhỏ trong việc cấu thành tội phạm. Một số đối tượng có xu hướng bị chi phối di truyền thấp sẽ rất khó phạm tội bạo lực, trong khi số khác với bản chất di truyền quá nhạy cảm có thể dễ dàng phạm tội hình sự.
Do di truyền có vai trò quan trọng như vậy, nên theo các nhà khoa học, nếu có thể sửa đổi gene ở những đối tượng sớm bộc lộ yếu tố bạo lực thì sẽ không còn những tên tội phạm trưởng thành. Nhưng trước hết, họ phải tìm ra đối tượng không có bản năng giết đồng loại trong bất kỳ hoàn cảnh nào, sau đó giải mã gene có tác dụng ức chế bản năng giết người, từ đó sửa chữa các hệ thống gene bị khiếm khuyết theo cách tương ứng.
Kiến thức Ngày nay (theo Pravda và Time)