Phụ nữ Việt Nam còn ít tham gia lĩnh vực công nghệ cao
 |
| Các đại biểu tại Hội thảo Phụ nữ Việt Nam với kinh tế tri thức. |
“Nhiều dấu hiệu cho thấy phụ nữ nước ta ít có điều kiện để theo đuổi các ngành khoa học mới, có hàm lượng tri thức cao như công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật… Nếu không có những biện pháp điều chỉnh phù hợp thì trong vài năm nữa, một số ngành công nghệ mũi nhọn sẽ là độc quyền của nam giới”.
Bà Phan Thanh Mai, chuyên viên Trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ đã thẳng thắn phát biểu như vậy tại Hội thảo Phụ nữ Việt Nam với kinh tế tri thức, diễn ra sáng qua ở Hà Nội.
Nhiều đại biểu tham dự Hội thảo cũng có chung ý kiến này. Hiện nay, ở Việt Nam, số phụ nữ có trình độ, tay nghề cao đang rất thiếu, và cũng chưa phát huy hết năng lực. Theo điều tra của Tổng cục Thống kê tháng 9/1999, trong tổng số những người có trình độ đại học nữ chiếm 31,9%, thạc sĩ 30,5%, tiến sĩ 18% và tiến sĩ khoa học 4%. Về học hàm, chỉ có 4% giáo sư là nữ giới. Cơ cấu này chứng tỏ sự thua kém của nữ so với nam, cả về mặt số lượng và chất lượng.
Mặt khác, theo TS Phan Thị Thanh, GĐ Trung tâm nghiên cứu khoa học về lao động nữ (Bộ LĐTB&XH), số phụ nữ có học hàm, học vị và uy tín khoa học lại quá ít, tuổi cao và phải về hưu theo chế độ sớm hơn nam giới 5 năm. Vì vậy, ước tính 10 năm nữa, trên 70% số nữ trí thức sẽ về hưu, trong khi đội ngũ kế cận chưa kịp đáp ứng về chất lượng.
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, số phụ nữ tham gia rất hạn chế. Hàng năm có gần 1.000 kỹ sư tin học tốt nghiệp ở 8 trường đại học trên cả nước, nhưng nữ chỉ chiếm dưới 10%. Đối với các chuyên gia máy tính, con số này là 12%. Ngành kỹ thuật điện cũng có tỷ lệ tương tự.
Theo các chuyên gia, thực chất tỷ lệ phụ nữ có trình độ cao đẳng, đại học không thua kém nam giới bao nhiêu. Song sau khi tốt nghiệp, họ chỉ có thể dành 4-6 năm cho công việc vì còn phải đảm nhận chức năng làm vợ, làm mẹ, trong khi nam giới có thể dành gần như toàn bộ thời gian. Trong công tác khoa học, để khẳng định được vị trí của mình, người phụ nữ còn phải mất nhiều thời gian hơn nữa, có khi đến 6-8 năm. Đó là chưa kể trong những ngành kỹ thuật cao, người ta rất dè dặt trong việc tuyển dụng nữ giới do định kiến về khả năng làm việc của họ. Mặt khác, khi học vấn và mức độ tham gia công tác xã hội gia tăng, tỷ lệ tan vỡ gia đình cũng tăng theo. Do đó, phụ nữ có xu hướng chọn những ngành nghề nhẹ nhàng để kết hợp được công việc gia đình và xã hội. “Khi khoa học công nghệ liên tục được đổi mới thì phụ nữ sẽ có nhiều khả năng bị loại khỏi những ngành nghề có hàm lượng tri thức cao”, bà Phan Thanh Mai nói.
Để tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát huy được khả năng sáng tạo, tiến sĩ Đặng Cẩm Hà (Trung tâm KHTN &CNQG) đề nghị Nhà nước có chiến lược đào tạo phụ nữ theo định hướng của từng lĩnh vực khoa học công nghệ, tránh mất cân đối cung cầu; khuyến khích các nữ nghiên cứu trẻ bằng những giải thưởng. Các đại biểu cũng cho rằng nên xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong quy định tuổi về hưu, tuổi đề bạt của nam, nữ, tạo ra nhiều loại hình nghiên cứu để tận dụng chất xám của chị em cán bộ khoa học đã nghỉ chế độ, nhưng còn sức khỏe...
Bích Hạnh