Cảm xúc của những người nhận giải Nobel Vật lý 2002
Ba nhà khoa học lớn, ba tâm trạng khác nhau: người bất ngờ, mừng rỡ, người bình thản đón nhận vinh quang, còn người thứ ba đã mất gần hết trí nhớ, và không hiểu rõ thông báo của Hoàng gia Thụy Điển.
 |
| R. Giacconi. |
5h30' sáng ngày thứ ba, Riccardo Giacconi bị đánh thức khi còn đang ngủ tại ngôi nhà nhỏ ở Washington. Nhà khoa học 71 tuổi vô cùng bất ngờ khi một giọng nói từ đầu dây bên kia thông báo rằng, Viện khoa học Hoàng gia Thụy Điển vừa quyết định trao giải Nobel cho ông. "Tôi rất xúc động, không biết nói gì. Sau đó tôi nghĩ, người ta nên làm gì trong một ngày như vậy? Cuối cùng, tôi quyết định đến văn phòng để gặp đồng nghiệp", Giacconi nói.
Giacconi được nhận giải Nobel, vì ông đã có những cống hiến lớn cho ngành vật lý thiên văn. Từ những năm 1960, Giacconi đã thiết kế chiếc kính thiên văn chụp tia X đầu tiên. Sau này, kính thiên văn vệ tinh Chandra đã kế thừa nền tảng nghiên cứu của ông.
Giacconi sinh năm 1931 ở Italy. Ông di cư sang Mỹ, sau khi đã làm xong luận án tiến sĩ vật lý tại Milan năm 1959. Tại Mỹ, ông được cộng sự đánh giá là một nhân cách mạnh mẽ và năng động: "Ai đã gặp ông dù chỉ một lần cũng không thể quên được", bà Cahtherine Cesarsky, Giám đốc Đài thiên văn phương Nam của Mỹ, nhận xét. Bà là một học trò của Giacconi.
Ngoài đam mê khoa học, Giacconi còn là một nghệ sĩ. "Ông rất thích ca kịch và là một họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tài" - Cesarsky nói - "Nhiều người rất thích tranh và tượng của ông. Nếu không phải là nhà vật lý, chắc chắn ông sẽ thành công lớn trong nghệ thuật".
 |
| Masatoshi Koschiba. |
Trong khi Giacconi xúc động mạnh khi nghe tin về giải Nobel, thì ở nửa kia trái đất, tại Nhật Bản, nhà khoa học Masatoshi Koshiba tỏ ra rất bình thản. "Cảm ơn, tôi lấy làm vinh hạnh", Koshiba chậm rãi nói với người báo tin từ Stockholm, như thể không có gì xảy ra vậy. Từ 15 năm nay, ông đã chờ đợi giải này.
Koshiba, vị giáo sư năm nay 76 tuổi, "con đại bàng" trong ngành vật lý hạt của Nhật Bản, đã phát minh ra chiếc máy dò neutrino khổng lồ đặt dưới lòng đất. Hệ thống đó đã cung cấp những kiến thức mới về hạt neutrino, loại hạt được xem là "ma quái" nhất, vì nó có thể đi qua cơ thể chúng ta mà không để lại dấu vết gì.
Koshiba là người yêu thiên nhiên. Ông đặc biệt tôn sùng âm nhạc của Johan Sebastian Bach, và đã đến Đức, quê hương của nhạc sĩ này, nhiều lần. Những năm 1980, ông làm việc tại các trung tâm Hamburg, Garching và Heidelberg của Đức. Hiện Koshiba nghiên cứu tại Đại học Tokyo. "Ông là một người lạc quan và dễ mến" - Nobert Schmitz, Giám đốc Viện vật lý Max-Plank ở Munich, nói - "Nhờ ông mà Nhật Bản trở thành cường quốc về vật lý hạt".
 |
| Raymond Davis. |
Trong khi Giacconi được nhận một nửa số tiền của giải Nobel, thì Koshiba phải chia một nửa phần còn lại với một nhà nghiên cứu người Mỹ - tiến sĩ Raymond Davis - người được xem là bậc tiền bối số một của vật lý hạt. Davis đã chứng minh được sự tồn tại của các hạt neutrino từ những năm 1960, nhờ việc tạo ra các thiết bị dò hạt nằm sâu 1,5 kilomét dưới lòng đất.
Nhà vật lý này đã làm việc gần 40 năm tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Mỹ. Ông là một người ít nói, kiên trì và cẩn thận. Khi đưa ra ý tưởng về việc "bắt" các hạt neutrino, Davis đã bị không ít cộng sự cười là không tưởng và ngớ ngẩn. Tuy nhiên, ông đã bỏ qua mọi lời đàm tiếu để kiên trì theo đuổi mục đích này.
Năm 1984, khi đã 58 tuổi, Raymond Davis được Phòng thí nghiệm Brookhaven cho nghỉ hưu. Tuy nhiên, vì đam mê khoa học, ông tiếp tục xin làm việc cho Đại học Pennsylvania ở Philadelphia (Mỹ). Tới năm 1999, chỉ khi bị bệnh quá nặng, Davis mới xin nghỉ. Một người bạn lâu năm của ông, tiến sĩ Gerhart Friedlander, nói rằng: "Tôi biết Davis từ năm 1948. Ông là người rất dễ mến và cởi mở, một nhà nghiên cứu đầy sáng tạo và cẩn thận".
Hiện nay, Davis bị bệnh mất trí nhớ. Ông không hiểu rõ thông báo của Hoàng gia Thụy Điển. Người ta phải giải thích mãi ông mới lờ mờ nhận ra ý nghĩa của nó. Những người chăm sóc ông nói rằng, chưa chắc ông đã tới được Thụy Điển để nhận giải vào tháng 12 tới.
Minh Hy (theo dpa)
Giải Nobel Vật lý 2002
Giải Nobel 2001