Thứ sáu, 25/5/2001, 11:15 GMT+7

Một kiến nghị khoa học về trị thủy sông Hồng cách đây 70 năm

"Lòng sông có bồi hay không, bồi nhiều hay ít, cũng tùy theo có nghẽn hay không, nghẽn nhiều hay nghẽn ít... Nay đã biết bồi là tại có chỗ nghẽn, lụt cũng tại có chỗ nghẽn, thế thì có muốn cho khỏi bồi khỏi lụt, chỉ mở rộng tất cả các chỗ nghẽn là xong", Nguyễn Cảnh đã viết như thế trong bài "Phương sách trị thủy" đăng trên tạp chí Nam Phong số 133 năm 1928.

Có ý kiến đề nghị khai thêm những con sông mới hai bên tả hữu sông Hồng để thoát bớt nước. Nhưng theo Nguyễn Cảnh, việc khai các con sông đó phải thỏa mãn ba yêu cầu:

1 - Các sông mới phải đào từ Sơn Tây, Vĩnh Yên chứ ở hạ lưu thì không rút được nước thượng lưu.

2 - Sông mới phải đổ thẳng ra bể chứ lại đổ sang sông Thái Bình thì gặp nước lớn, chính sông Thái Bình cũng không thoát được nước chưa nói đến lượng nước đổ về thì càng khó thoát.

3 - Các sông mới cũng phải lo đủ nước, nếu không thì chính các sông này lại gây ra vỡ đê. Thời Minh Mạng cho khai cửa sông nhỏ Cửu An Hà ở Hưng Yên rồi đã phải lấp lại.

Tìm "bệnh" mà chữa

Thời Pháp thuộc, kỹ sư Normandin đã đi nghiên cứu kinh nghiệm trị thủy của Philippines, Nhật Bản, Nam Mỹ, Bắc Mỹ để áp dụng vào Việt Nam, nhưng phân tích đủ các lý lẽ mà cuối cùng không dám đưa ra một giải pháp cụ thể: Trồng rừng để hạn chế lũ ư? Theo ông ta, lưu vực sông Hồng phần lớn ở bên Vân Nam, Trung Quốc, không thể sang đó trồng rừng. Đào sông mới thì đắt quá, lùi một bên đê để lòng sông rộng thêm ra thì sẽ bị bồi, nước lại bị tắc nghẽn...

Theo tác giả, sự bế tắc của Normandin là do học thuyết về thủy lợi thời ấy của Pháp và thế giới nói chung, chưa có một học thuyết nào giải thích đúng nguyên nhân lũ lụt. Người thì bảo có lụt là tại đắp đê, người lại nói do phá rừng, cũng có người bảo tại lòng sông mỗi ngày bồi cao hơn lên, cửa bể ngày một xa... Có biết đúng nguyên nhân thì mới có biện pháp khắc phục.

Từ quy luật đơn giản

Theo ông Nguyễn Cảnh, có thể quan sát thấy một quy luật "rất tầm thường" nhưng rất quan trọng: Trên dòng sông, chỗ nào hẹp quá nước chảy mạnh thêm để "đào" cho rộng ra lấy lối thoát nước. Chỗ nào rộng quá nước chảy chậm lại làm phù sa bồi xuống, cho chật bớt sông lại. Sông to nước nhiều, mà có chỗ đắp đê nghẽn lại, sông muốn phá rộng để chảy mà người ta kè đá không cho nó phá. Nước do đó phải chảy chậm lại, gây ra phù sa bồi lấp lòng sông. Nếu giải tỏa chỗ nghẽn ấy, tất làm cho dòng chảy thông thoáng.

Kinh nghiệm trị thủy của Hà Lan cũng rất đáng chú ý. Năm 1850, giới kỹ thuật nước này phát hiện ra rằng nạn lụt ở nước họ có mấy nguyên nhân: nhiều băng đá vào mùa đông dồn lại, khi tan ra đầu mùa hè gây lụt, có quá nhiều cầu nhỏ bắc qua sông làm nghẽn dòng chảy, sông có nhiều khúc cong, nhiều khúc rộng quá... Nhà nước quyết định: ở nơi sông quá rộng thì đắp hẹp lại cho khỏi có bãi cát bồi; các khúc cong thì nắn thẳng, các cầu nhỏ mở rộng ra. Chính sách trị thủy này đã đem lại thành công mỹ mãn.

Ông Nguyễn Cảnh đưa ra giải pháp trị thủy sông Hồng : "Xem các công việc kể trên đó, thì biết rằng biện pháp nắn cong là một, biện pháp thông nghẽn là hai, hai biện pháp ấy thi hành ở đâu được đấy, chỉ trừ khi nào thi hành ở thượng lưu mà ở hạ lưu còn để nghẽn để cong là không được thôi".

Mở rộng 6 khúc trên sông Hồng

Theo ông, trên sông Hồng có sáu khúc lòng sông hẹp: một ở Chèm Vẽ, hai ở Thanh Trì, ba ở Văn Giang, bốn ở Khoái Châu, năm ở Nam Xang, sáu ở Thái Bình. Tại những chỗ ấy, sông vừa cong vừa nghẽn, chỉ còn lại độ 400 m nên sinh ra lụt. Bây giờ chỉ mở rộng sáu khúc ấy cho hợp lý là yên.

Mở rộng tức là lùi một bên đê ra, nhân thể lùi bên nào là phải tính đến việc nắn thẳng lòng sông luôn. Lùi đê bao nhiêu để cho dòng chảy vừa đủ? Theo ông, lấy mực nước to nhất ở Việt Trì vào năm 1898, khi mà mỗi giây có 35.000 m3 nước chảy về. Theo cách tính của Bazin: Sông ở Việt Trì rộng 805 m, hễ ra đến hạ lưu nếu cửa sông rộng được 1.550 m thì 35.000 m3/giây ấy được tiêu hết ra biển.

Cũng cần lưu ý: Tuy tạm thời phải nới rộng sáu khúc đê ấy, song cần có kế hoạch với cả đoạn sông từ Việt Trì trở xuống để có cái nhìn toàn cảnh. "Công việc hiện tại phải làm ngay thì chỉ có lùi sáu khúc đê ấy cộng cả thảy dài có 82 km, và phải đào hơn 100 con lạch nhỏ cho nước chảy vào. Đến khi nước lớn, nước bên sông mới thẳng hơn, dốc hơn sẽ chảy nhanh, nước bên sông cũ chảy chậm, dần dần sông cũ bồi thành ruộng mà sông mới thì tự khắc nước đánh phá rộng ra, không phải dùng nhân lực đào lắm".

Ngoài ra, nếu khai các chỗ nghẽn, nắn các chỗ cong lại, nước sẽ chảy mạnh hơn trước, nước chảy mạnh sẽ đào lòng sông sâu hơn, tàu bè dễ đi lại, thúc đẩy giao thông đường thủy phát triển.

Bài viết của Nguyễn Cảnh kết hợp cả ba yếu tố: lý thuyết, thực tiễn và tâm huyết của một nhà khoa học. Chắc chắn sẽ vẫn có một số giá trị chẳng hạn như sẽ gợi ý cho khoa học thủy lợi ngày nay về một vấn đề luôn luôn có ý nghĩa thời sự: Trị thủy sông Hồng.

(Theo Tiền Phong, 24/5)

Link Site
 
Tin hot
 
 
 
Lien he quang cao