Nhật ký bay của Gagarin
 |
|
Gagarin mở đầu cho cuộc chinh phục vũ trụ của con người. |
Ngày 12/4/1961, buổi sáng: “…Đã có lệnh lên đường! Mắt tôi hướng về kim đồng hồ: 9h7’ giờ Matxcơva. Tôi nghe một tiếng rít rồi một tiếng gầm kéo dài: toàn thân tên lửa khổng lồ rung chuyển, cất lên chầm chậm, rời khỏi bệ phóng. Giai đoạn chống trả sức hút của trái đất bắt đầu…”.
Trên đây là mở đầu nhật ký bay của Gagarin trích dịch trong cuốn Trên đường chinh phục vũ trụ của Trung tâm nghiên cứu dịch thuật TP HCM năm 1983.
"Một lực bất khả kháng càng lúc càng ghì tôi vào ghế ngồi. Tôi hiểu rằng trạng thái này không kéo dài lâu, nó sẽ kết thúc khi con tàu được đặt vào quỹ đạo. Đài báo Zaria cho biết: 70 giây đã qua. Khi tàu Vostok I (Phương Đông I) vượt qua các lớp khí quyển dày đặc, cơ phận phía trước tự động tách ra và bay đi… Xa xa, bề mặt quả đất hiện ra qua cửa kính nhỏ của tàu Vostok đang bay trên vùng Siberie”.
Khi tàu vào “hành lang thênh thang của vũ trụ”, Gagarin bắt đầu bị tác động bởi trạng thái không trọng lực. Đến 9h51’ tàu đã vượt khỏi bóng quả đất và hệ thống định hướng đã đưa tàu lao vào khoảng không. Ở độ cao 327 km nhìn xuống, Gagarin mô tả hình ảnh quả đất đẹp lạ lùng với màu xanh nhạt bọc quanh và bềnh bồng trong nền mây tím không gian.
Bay trên lục địa châu Phi, tàu nhận mệnh lệnh chuẩn bị tên lửa phản hồi, rồi: “Hệ thống hãm tự động bắt đầu làm việc lúc 10h15’ đưa tàu đi vào lại lớp khí quyển dày đặc. Vỏ ngoài thân tàu phát nhiệt nhanh chóng và xuyên qua cửa tôi thấy “quả cầu lửa” đỏ dữ dội, lửa hừng hực bao quanh thân tàu. Tuy vậy bên trong phòng lái chỗ tôi ngồi nhiệt độ vẫn giữ ở 20 độ C.
Rồi độ cao liên tục giảm xuống: 10.000 mét… 9.000 mét… 8.000 mét… 7.000 mét… dù bung ra, lúc bấy giờ kim đồng hồ chỉ 10h55' - kết thúc chuyến bay 108 phút vòng quanh trái đất, lập kỳ công mở đầu kỷ nguyên du hành vũ trụ: “Tất cả xảy ra như trong một giấc mơ: từ không gian bao la tôi đã quay về an toàn nơi tôi cất cánh lần đầu trên mặt đất”.
Mở đầu cho cuộc chạy đua Nga - Mỹ
Mỹ sau đó cũng đẩy mạnh những nỗ lực nhằm đưa người lên không gia cho kịp Liên Xô, thể hiện qua chuyến phóng phi thuyền Freedom 7 đưa Sheppard lên quỹ đạo vào ngày 5/5/1961, nghĩa là chỉ 23 ngày sau chuyến bay của Gagarin. Chuyến bay này kéo dài vẻn vẹn 15 phút 23 giây.
Không nản lòng, hơn hai tháng sau, Mỹ phóng phi thuyền Liberty đưa Virgil I. Grissom bay lên, nhưng cũng ở mức khiêm tốn tương tự lần trước, chứ chưa bay vòng quanh trái đất được. Phải đợi năm sau, ngày 20/2/1962 lúc 15h47’, tên lửa Atlas của Mỹ khai hoả đưa phi hành gia John R. Glenn lên hành lang vũ trụ trên phi thuyền Friendship 7, phóng đi từ mũi Canaveral và bay quanh trái đất.
Không lâu sau “sự kiện Gagarin”, tổng thống Kennedy tuyên bố trước quốc hội Mỹ: “Trong vòng 10 năm, nước Mỹ sẽ đưa người lên mặt trăng và trở về trái đất an toàn”.
Để thực hiện, Mỹ xúc tiến mạnh chương trình Apollo với nhiều giai đoạn thăm dò và đổ bộ mang tên: “Kế hoạch sao Thuỷ”, “kế hoạch Song tử tinh”, “ Kế hoạch sao Thổ”. Các chuyển động “khả thi” của chương trình hé ra từ 1966 khi Mỹ quyết định thử nghiệm chở người trên phi thuyền Apollo 4.
Không may, khi phi thuyền đang chuẩn bị quá trình đếm ngược để xuất phát thì bị bốc cháy dữ dội do chập điện và cabin chứa khí ôxy phát nổ. Bi kịch thảm khốc này khiến 3 phi hành gia bên trong Apollo 4 bị thiêu chết vào chiều 27/1/1967. Điều đó không ngăn cản các chuyến bay tiếp theo của Apollo 5-6-7… hướng về mặt trăng. Và Apollo 11 thực hiện sứ mạng đưa người đầu tiên lên mặt trăng lúc 10h56’ ngày 20/7/1969.
(Theo Thanh Niên, 13/4)