Một công nghệ mới bị xếp xó!
Nhờ kỹ thuật siêu lọc của Phân viện Khoa học vật liệu TP HCM (Trung tâm KHTN&CNQG), người dân miền biển sẽ có được một lít nước siêu tinh khiết, lọc trực tiếp từ nước biển chỉ với giá… 14,3 đồng, bằng công nghệ không gây ô nhiễm môi trường và nước uống ngay không cần đun nấu. Nhưng lạ thay, nhiều năm qua, công nghệ này vẫn “nằm yên trong ngăn kéo” của các nhà khoa học.
Từ năm 1990, các nhà khoa học tại Phân viện Khoa học vật liệu TP HCM đã bắt đầu nghiên cứu công nghệ màng lọc thẩm thấu ngược để chế tạo các thiết bị lọc nước siêu tinh khiết từ nước tự nhiên. Đến năm 1992, lắp đặt hệ thiết bị đầu tiên tại huyện Cần Giờ - TP HCM với công suất 5 m3/ngày.
Giá "mềm"
Công nghệ lọc này không dùng hóa chất nên không gây ô nhiễm môi trường. Nước thu được tinh khiết về hoá lý và vi sinh, uống được ngay không cần đun nấu, vừa tiết kiệm năng lượng vừa đảm bảo sức khoẻ. Nếu mỗi người dùng ăn uống 10 lít/ngày thì mỗi tháng mất khoảng 4.290 đồng nếu lọc nước biển. Còn đối với nước nhiễm mặn chỉ mất 1.950 đồng/tháng (tính luôn khấu hao máy).
Một điểm quan trọng khác là thiết bị này được sản xuất bởi 80% vật tư trong nước nên giá thành thấp hơn rất nhiều so với thiết bị nước ngoài có công suất và chất lượng tương đương. Tính trung bình, chỉ cần đầu tư khoảng 70 triệu đồng cho một cụm thiết bị cung cấp nước cho 200 hộ dân. Trong khi đó, thiết bị theo công nghệ này của nước ngoài có công suất tương đương, phải mất 15.000-20.000 USD. Đó là chưa kể khi nhập thiết bị nước ngoài thường gặp khó khăn mỗi khi bị hỏng, phải mời chuyên gia nước ngoài, tốn kém thời gian và tiền bạc.
Cho đến nay, thiết bị lọc nước của Phân viện đã khẳng định được rất nhiều ưu điểm: Công nghệ tiên tiến, kết cấu gọn nhẹ dễ sử dụng, chất lượng nước sau xử lý đạt độ tinh khiết cao, tuổi thọ lâu bền, cung ứng phụ tùng thay thế thuận tiện và đầy đủ với chi phí hợp lý, giá thành rẻ…
”Ngon, bổ, rẻ” nhưng không bán được
Tuy vậy, đến nay công nghệ này vẫn nằm xếp xó trong ngăn kéo. Thực ra, từ năm 1994-1999, Phân viện Khoa học vật liệu đã cố gắng giới thiệu sản phẩm đến một số đơn vị, địa phương trong nước như Xí nghiệp nước suối Vĩnh Hảo, Bệnh viện Cần Giuộc - Long An, huyện Đại Bình - Bến tre, huyện Cần Giờ - TP HCM, một số huyện, xã tỉnh Ninh Thuận…
Kỹ sư Lê Khắc Hoàng Lan thuộc Phân viện cho biết: “Chúng tôi là những nhà khoa học, rất muốn đưa công nghệ mới ra phục vụ dân, nhưng chúng tôi không có chuyên môn về lĩnh vực tiếp thị, quảng cáo nên không ai biết tới. Chúng tôi cũng có tiếp xúc với các cơ quan, chính quyền địa phương. Tại huyện Cần Giờ (TP HCM), chúng tôi được trả lời là địa phương gặp khó khăn về kinh phí nên không lắp đặt được. Còn nếu muốn tiếp xúc với các doanh nghiệp và các đơn vị trong nước, ngay cả kinh phí đi lại chúng tôi cũng không có”.
Cũng với vấn đề trên, Tiến sĩ Hồ Sơn Lâm, Giám đốc Phân viện cho hay, đã gõ khá nhiều cửa (chủ yếu bằng công văn) nhưng không có hồi âm. Theo ông: “Hình như trong việc mua bán máy móc ở các đơn vị có những quy luật chi, hoa hồng rất tế nhị mà các nhà khoa học như chúng tôi không hiểu nên không tiếp cận được”. Kỹ sư Hoàng Lan cũng cho rằng ngay cả có chi hoa hồng theo đúng luật thì thiết bị lọc của phân viện cũng yếu thế, vì giá thành quá thấp thì hoa hồng sẽ không cao, không hấp dẫn được những người có quyền quyết định mua máy. Các kỹ sư trong tổ nghiên cứu cho biết, tại một huyện, phân viện chào giá lắp đặt cụm thiết bị công suất 200 m3/ngày với giá 1,8 tỷ đồng thì bị từ chối, nhưng địa phương lại bỏ ra 11 tỷ đồng chỉ để xây bồn chứa nước ngọt từ các sà lan chở xuống cung cấp. Kết quả của việc đầu tư này là hiệu suất sử dụng bồn rất thấp vì bồn chứa bị rò rỉ, gây thất thoát nước.
(Theo Lao Động, 6/3).