E-mail
Bản In
CỨ ĐỂ CÁC NGÂN HÀNG YẾU KÉM PHÁ SẢN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ LUẬT PHÁ SẢN
Rà soát lại các khoản nợ của các ngân hàng hoạt động yếu kém, quản trị tồi sau đó cứ cho phá sản theo luật doanh nghiệp và luật phá sản để tránh tư tưởng người dân cứ nghĩ là gửi ngân hàng là không sợ mất tiền vì có nhà nước đứng sau lưng bảo đảm bất chấp ngân hàng đó hoạt động ra sao mà phải cẩn trọng chọn ngân hàng khi gửi tiền hay tham gia các dịch vụ tại đó. Phải minh bạch hóa hoạt động ngân hàng để họ làm việc có trách nhiệm với xã hội hơn chứ không phải để tình trạng méo mó gây ảnh hưởng đến nền kinh tế như hiện nay.
Khi ngân hàng là cty con
Tôi lo lắng một nguy cơ trên thị trường tài chính đó là các công ty lớn khi muốn huy động vốn thay vì họ tìm tới các ngân hàng độc lập thì họ lại bỏ tiền ra để thành lập một ngân hàng là công ty con của họ. Như thế họ có thể vay của dân với lãi suất chỉ 12% (cách đây 2 năm) thay vì đi vay các ngân hàng khác với lãi suất 17-19%. Sau đó toàn bộ số tiền huy động đc này đem dồn về cho công ty mẹ bất chấp năng lực của công ty mẹ. Điều này là rất nguy hiểm khi công ty mẹ thua lỗ chuyện mất thanh khoản và đổ vỡ là hoàn toàn có thể xẩy ra khi công việc làm ăn của công ty mẹ không đc thuận lợi (mà đa số các công ty mẹ này là công ty BDS)
Cải tổ hệ thống ngân hàng.
Có vẻ như quyết tâm nhằm giảm bớt số lượng ngân hàng, cải tổ hệ thống ngân hàng đã được cụ thể hóa bằng quyết tâm và bằng văn bản chính thức của lãnh đạo. Cụ thể nhất gần đây là văn bản của NHNN về việc tiến hành cải tổ hệ thống ngân hàng. Tất nhiên, ai cũng muốn một hệ thống tài chính lành mạnh và hiệu quả. Nhưng suy nghĩ làm thế nào để đưa ra giải pháp tốt nhất mới là điều phải suy nghĩ.
Về quan điểm cá nhân của tôi thì vẫn phải chuẩn bị một số điểm trong vấn đề cải tổ hệ thống ngân hàng.
1. Việt Nam hiện nay đang được cho là có quá nhiều ngân hàng và dẫn tới tình trạng khó quản lý và một số quan điểm cho rằng đây là nguyên nhân dẫn tới bất ổn trong nền kinh tế. Theo quan điểm của tôi thì nguyên nhân chính vẫn là việc Việt nam chưa đưa ra những biện pháp hữu hiệu trọng việc quản lý các ngân hàng để tránh những tác động xấu từ việc kinh doanh không hiệu quả của các ngân hàng tới nền kinh tế. Một trong những việc cần nghiên cứu là xây dựng những giải pháp hợp lý cho việc phá sản các tổ chức tài chính. Nếu chúng ta cứ phải nuôi một con bệnh yếu kém mãi thì đương nhiên tốn kém hơn nhiều so với chi phí để mai táng khi con bệnh chết hẳn, phá sản không phải là điều gì xấu, nghiên cứu cách thức để xây dựng một hệ thống sao cho việc phá sản các tổ chức tài chính không ảnh hưởng lớn và mang tính dây truyền tới nền kinh tế mới là một vấn đề cần suy nghĩ. Ngay cả các nước phát triển cũng đang phải cải tổ hệ thống tài chính để tránh tình trạng “ quá lớn để sụp đổ”. Việt nam chưa có thông lệ và giải pháp cho việc phá sản ngân hàng, nên dẫn tới tình trạng bất cứ ngân hàng nào có nguy cơ phá sản cũng cần được giải cứu, điều này tạo ra những sự không bình đẳng giữa các doanh nghiệp, khi một doanh nghiệp tư nhân phá sản thì không được giải cứu, còn ngân hàng thì lại đươc giải cứu. Cần phải nghiên cứu để việc phá sản được diễn ra một cách bình thường và không gây hệ lụy lớn tới xã hội
2. Quan tâm tới các luật lệ và quy định đảm bảo sự công bằng giữa các bên tham gia vào hệ thống tài chính: Ngân hàng, người gửi tiền, doanh nghiệp. Gần đây nhất đã nổ ra cuộc biểu tình giữa rất nhiều nước với phong trào “ Chiếm phố Wall”. Thực chất thì giới tài chính được lợi khá nhiều từ vai trò trung gian của họ. Tất cả dòng tiền giao dịch đều chảy qua hệ thống tài chính và họ đã có những quyền lực khá lớn trong việc nắm được những dòng tiền này, mặc dù đây là tiền của người dân và doanh nghiệp gửi vào sau đó lại được phân bổ lại cho những người dân và doanh nghiệp có nhu cầu. Ngân hàng có những công cụ và cách thức để đẩy những khó khăn cho doanh nghiệp và người dân khi họ nắm toàn bộ dòng tiền trong xã hội. Những quy tắc và luật lệ đưa ra đối với hệ thống tài chính luôn phải nghiêm ngặt và đảm bảo quyền lợi chặt chẽ của các bên, không thể để tình trạng giới tài chính làm giàu dựa vào cả sự khủng hoảng và không chia sẻ bớt gánh nặng xã hội. Các thiệt hại, rủi ro thì luôn đẩy về phía người dân và doanh nghiệp.
3. Đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh trong hệ thống tài chính. Cạnh tranh bình đẳng và lạnh mạnh luôn là động lựa cho sự phát triễn xã hội. Những cá thể yếu sẽ bị đào thải khỏi môi trường. Tuy nhiên, sự cạnh tranh không lành mạnh sẽ ngược lại gây phương hại cho sự phát triển môi trường chung và tạo điều kiện cho những cá thể yếu lấn át những cá thể mạnh. Vai trò của Ngân hàng nhà nước như người trọng tài để đảm bảo các quy luật cạnh tranh này diễn ra một cách bình đẳng và có lợi cho xã hội. Hướng tới việc sử dụng các công cụ thị trường để quản lý ngân hàng, và sử dụng những quy luật thị trường để tạo ra hệ thống tài chính lành mạnh.
Cần một đảm bảo của Thống Đốc để ổn định hệ thống
Trong năm 2003, khi có một tin đồn thất thiệt nhỏ về khả năng thanh khoản của NH ACB thì sự lan truyền của nó đã làm làm làn sóng rút tiền ồ ạt trong toàn hệ thống ACB, cảnh người gửi tiền xếp hàng chờ rút tiền lúc đó đã đẩy ACB vào tình thế rất khó khăn. Trong tình huống khẩn cấp đó thì Thống đốc Lê Đức Thúy đã đứng ra để cam kết đảm bảo cho sự chi trả của NH, từ đó đã ổn định được lòng tin của công chúng, nhà đầu tư. Tình hình thanh khoản của ACB lúc đó đã tốt trở lại.
Vào ngày 20/05/2010 khi thông tư số 13/2010/NHNN có hiệu lực đã tác động tích cực đến việc kiểm soát hoạt động của NHNN đối với các NHTM, nâng cao khả năng thanh khoản của Ngân hàng, hạn chế rủi ro trong hoạt động NH.
Tuy nhiên, từ khi áp dụng trần lãi suất huy động 14% cho tất cả TCTD Ngân hàng và TCTD phi ngân hàng, NHNN đã quá khắt khe và chú trọng đến biện pháp hành chính mà không quan tâm đến tính thị trường của nó. Tính thị trường của nó đã không còn.
Liệu chính sách lãi suất huy động trần có phát huy tác dụng hay là đã sinh ra rất nhiều hệ lụy? Chính sách lãi suất 14% này sở dĩ NHNN áp dụng cũng chỉ là không muốn sự chạy đua lãi suất huy động giữa các NH và muốn lãi suất đầu ra- cho vay với mức thấp để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng trên thực tế thì lãi suất đầu ra để phục vụ cho hoạt động lãi suất kinh doanh không hề nhỏ, khoảng trên 20%, thậm chí hơn rất nhiều.
Thay vì chỉ quy định thì ta chỉ quy định trần lãi suất là đủ, và lúc đó điều kiện cần của nó là NHNN chỉ cần kiểm soát thật chặt chẽ, thật gắt gao, đảm bảo mục tiêu cho mục tiêu này. Vì nếu như các TCTD muốn hoạt động có lãi thì bắt buộc phải tính thật kỹ lưỡng để huy động đầu vào, lúc đó các NHTM dù là lớn hay nhỏ đều phải căn nhắc để huy động sao cho có lợi nhất, và chắc chắn khi đó mức huy động sẽ không bao giờ vượt mức lãi suất trần cho vay.
Một cái bất cập lớn của quy định trần lãi suất huy động 14% cho cả NHTM nhà nước và NHTMCP. Theo tâm lý nhà đầu tư gửi tiền tiết kiệm tại NHTM nhà nước có rủi ro thấp hơn là gửi tại NHTMCP, trong kinh doanh thì một sự rủi ro cao hơn sẽ đi đôi với mức sinh lợi cao hơn, vì vậy nếu NHNN có quy định lãi suất trần thì phải xem xét sự chênh lệch giữa NHTM nhà nước và NHTMCP. Nếu như huy động trần là 14% cho NHTM nhà nước thì mức trần cho NHTMCP phải là 15% hoặc thậm chí 16%.
Cũng vì trong giai đoạn hiện tại mức chung huy động trần trên thực tế đã có sự chảy vốn từ các NHTMCP sang NHTMNN, hiện tượng rút vốn đã xảy ra tại một số NHTMCP nhỏ, nếu hiện tượng này kéo dài thì chắc chắn sẽ gây ra tình trạng mất thanh khoản, ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền, nhà đầu tư trong và ngoài nước, thậm chí có thể tạo cơ hồi cho cuộc tấn công đầu cơ vào đồng VNĐ, gây đỗ vỡ hệ thống.
Vì vậy, Thống đốc NHNN cần có những cam kết mạnh mẽ trên phương tiện truyền thông để ổn định lòng tin của nhà đầu tư vào hệ thống, từ đó có chính sách tiền tệ thích hợp hơn như bỏ lãi suất trần huy động, thiết lập trần lãi suất cho vay trên cơ sở kiểm soát chặt chẽ và có chính sách hỗ trợ tích cực hơn cho hoạt động lãi suất kinh doanh, tạo điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế VN.
Không cần phải tái co cấu ngân hàng
Giữ nguyên như hiện trạng là tốt nhất. Trong thời gian qua do sự quản lý lỏng lẻo mới dẫn tới việc cạnh tranh không lành mạnh giũa các ngân hàng. Đặc biệt là các ngân hàng nhỏ lẻ đã làm rối loạn lãi suất huy động, lãi suất cho vay và tỷ giá ngoại tệ.
Theo tôi cứ để như hiện tại là tốt nhất nhưng Ngân Hàng Nhà Nước phải giám sát chặt chẽ đồng thời các ngân hàng thương mại nhà nước phải là người cầm cân trong việc tăng giảm lãi suất và tỷ giá không thể như thời gian vừa qua các ngân hàng lớn phải chạy theo các ngân hàng nhỏ.
Ngân hàng nhà nước phải phân khúc thị trường hoạt động cho các ngân hàng, buộc các ngân hàng phải tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ phù hợp với khả năng vốn và trình độ quản lý của minh. Tôi tin chắc ràng hoạt động của các ngân hàng sẽ đi vào ổn định hơn, lành ma5cnh hơn và phát triển tốt hơn, " Đừng ráp thêm toa vào một đầu máy yếu)
Bàn về tái cơ cấu ngân hàng
Một bài phân tích rất hay. Cảm ơn anh Hùng!
Mục đích chính
Mục đích chính của việc tái cơ cấu là làm cho các ngân hàng VN mạnh lên để đủ sức đương đầu với hội nhập quốc tế. Nếu ko mạnh lên chắc chắn không thể cạnh tranh nổi với nước ngoài. Đơn giản chỉ có vậy. Tuy nhiên hiệu quả thế nào thì phải xem đã.
Ý kiến ủng hộ bài viết của anh Hùng
Ủng hộ bài viết của anh Hùng, theo tôi hãy cứ để nền kinh tế Việt Nam đi theo quy luật của kinh tế thị trường, ngân hàng nhỏ thì cũng không làm sao cả. Trong kinh doanh có các loại hình doanh nghiệp trong đó có ngân hàng, đã là ngân hàng thì phải có ngân hàng lớn, ngân hàng nhỏ. Quan trọng là nếu ngân hàng làm ăn hiệu quả thì tồn tại, ngân hàng làm ăn kém hiệu quả thì phải phá sản hoặc bị sát nhập đúng theo quy luật của kinh tế thị trường, vấn đề là họ đã làm ăn kém hiệu quả đến mức buộc phải sát nhập hay phá sản hay chưa? hay cứ dùng mệnh lệnh hành chính để buộc họ phải sát nhập. Nếu chúng ta cứ áp đặt điều hành như thế rất dễ dẫn đến nền kinh tế sẽ méo mó, lúc đấy còn nguy hiểm hơn.
Đành rằng mục đích tái cơ cấu sát nhập các ngân hàng lại để có ngân hàng lớn mạnh, nhưng có ai giám đảm bảo chắc chắn rằng một ngân hàng lớn thì sẽ luôn luôn hoạt động hiệu quả? và khi một ngân ngân hàng lớn kinh doanh không hiệu quả dẫn đến phá sản thì hậu quả của nó như thế nào? điều này thì chắc mọi người cũng biết, nguyên nhân của khủng khoảng tài chính 2008 chủ yếu lại bắt nguồn từ chính sự sụp đổ của các ngân hàng, định chế tài chính phi ngân hàng rất lớn (Lehman Brothers, Bear Stearns, Fannie Mae...) chứ không phải bắt nguồn từ các ngân hàng, định chế tài chính nhỏ.
Tái cơ cấu vì sao?
Muốn biết nó đúng không, phải trả lời được tái cơ cấu là một chính sách mới cho hiệu quả hơn hay là sửa sai?Nếu là hiệu quả hơn thì sao phải tái mới chín,cứ để nó bình thường.Còn nếu sửa sai thì người làm nó sai không thể sửa để nó đúng được khi chưa nhận thấy mình sai.
- '15 năm nhịn ăn mới đủ tiền mua nhà thu nhập thấp' (04/08)
- Tìm lời giải cho bài toán kinh tế Việt Nam (28/07)
- Người dân kỳ vọng những quyết sách của lãnh đạo mới (27/07)
- Cần xem lại chính sách bình ổn giá (19/07)
- Chưa cần giải cứu thị trường bất động sản (12/07)
- Bài toán thị trường ôtô nội địa (11/05)
- Kiếm tiền lẻ dễ hơn tiền chẵn (04/05)
- Nỗi khổ của Thuê bao trả trước (24/04)
- Tại sao đất nền ở Hà Nội tăng giá mạnh? (20/04)
- Tìm quỹ đầu tư dự án dịch vụ ăn uống (16/04)
- Những cung bậc tâm lý nhà đầu tư chứng khoán (13/04)
- Không đồng tình việc giải thích giá xăng tăng (30/03)
- Bí quyết kinh doanh của tôi (29/03)
- Tư vấn mở một cửa hàng quảng cáo nhỏ (14/03)
- Kinh nghiệm xương máu của tôi khi khởi nghiệp (11/03)
| CÁC CHỦ ĐỀ BẠN ĐỌC QUAN TÂM | ||||||||||||||
|













VnExpress tuyển dụng
Bài viết hay!
SBV nên có câu trả lời và công khai chi tiết kế hoạch và mục tiêu tái cơ cấu. Có phải mục đích cuối cùng là làm lành mạch hệ thống ngân hàng, thúc đẩy kinh tế phát triển.