'Luật Chống phá giá tồi tệ của Mỹ đang tệ hại hơn'
 |
| Ngành xuất khẩu tôm của 6 nước đang khốn đốn vì quy định ký quỹ liên tục. |
Yêu cầu nộp khoản ký quỹ liên tục thuế chống phá giá vừa ban hành đang khiến cho đạo luật này của Mỹ, vốn đã tồi tệ, nay càng tệ hại hơn. Hai luật sư Mỹ Kenneth J. Pierce và Matthew R. Nicely đã nhấn mạnh điều này trong bài viết đăng trên Tạp chí The Metropolitan Corporate Counsel, số tháng 5.
Luật chống phá giá (AD) tồi tệ của Mỹ đã trở nên tệ hại hơn. Yêu cầu mới gây nhiều tranh cãi về khoản ký quỹ liên tục thuế chống phá giá do Cục Hải quan và Biên phòng Mỹ (CBP) ban hành đã khiến cho đạo luật này trở nên phức tạp hơn đối với việc nhập khẩu hàng nông thủy sản. Đối với từng lần nhập khẩu các loại sản phẩm này, bên cạnh việc đóng đủ tiền đặt cọc thuế chống phá giá, nhà nhập khẩu giờ đây còn phải đóng thêm một khoản ký quỹ có giá trị bằng tổng số thuế ước tính cho cả một năm nhập khẩu - và các bên bảo lãnh đang yêu cầu thế chấp đối với các khoản ký quỹ này.
Điểm mấu chốt trong Luật Chống bán phá giá Mỹ chính là quy định hồi tố, nhưng cả quá trình tính toán và áp dụng nó rất khó hiểu. Với luật chống bán phá giá của các nước trên thế giới, các mức thuế chống phá giá nộp tại thời điểm nhập khẩu nhìn chung là khoản tiền thuế cuối cùng. Do vậy, mức độ chắc chắn được bảo đảm vì việc điều chỉnh thuế suất chống phá và tiền thuế cũng chỉ được áp dụng đối với các lô hàng nhập khẩu trong tương lai. Ngược lại, theo hệ thống pháp luật Mỹ, người ta áp dụng mức “đặt cọc” thuế ước tính. Tại thời điểm nhập khẩu, các nhà nhập khẩu phải đóng tiền mặt trước dựa trên thuế suất ước tính, nhưng sau đó lại phải đợi cho đến khi Bộ Thương mại Mỹ (DOC) cập nhật (tính lại) các tính toán của mình để xác định nhà nhập khẩu đó thực tế nợ nhiều hơn hay ít hơn số tiền mặt đã đặt cọc. Việc tính lại này xảy ra theo thủ tục “xét lại hành chính” hằng năm mà trình tự xét lại thường phải mất tới hai hoặc ba năm sau khi sản phẩm đã được nhập khẩu vào Mỹ mới hoàn tất.
Xét cho cùng, với hệ thống hồi tố, nhà nhập khẩu chỉ có lợi trong trường hợp thuế suất chống phá giá cuối cùng được xác định thấp hơn so với khoản tiền mặt đã đặt cọc. Trong trường hợp này, nhà nhập khẩu sẽ được hoàn thuế cộng với lãi suất. Nhưng thực ra, các nhà nhập khẩu hầu như không kiểm soát được kết quả của quá trình xét lại hành chính, và phải đối mặt với kết cục là mức thuế suất cuối cùng cao hơn so với mức tạm tính. Nợ nần sẽ nhiều hơn so với khoản tiền đã đặt cọc, chưa kể khoản lãi của tiền thuế còn thiếu. Do đó, thay vì chấp nhận rủi ro này, đôi khi các nhà nhập khẩu sẽ ngừng nhập hàng từ nước bị áp thuế chống bán phá giá. Hệ thống chống phá giá mang tính chất hồi tố của Mỹ được áp dụng từ năm 1921 không thay đổi về bản chất mà chỉ được biểu hiện dưới hình thức này hay hình thức khác mà thôi. Điều này làm cho luật chống phá giá của Mỹ trở thành một vũ khí thương mại hết sức mạnh mẽ bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, ngay cả trong trường hợp mức đặt cọc thuế chống phá giá thấp.
Tệ hại hơn nữa, năm ngoái CBP đã công bố một chính sách mới tăng gánh nặng đối với các nhà nhập khẩu các sản phẩm chịu thuế chống phá giá. (Bản sửa đổi Chỉ thị về Ký quỹ của CBP số 99-3510-004 đối với Một số Hàng hóa Chịu Thuế Chống phá giá/Chống trợ giá, có hiệu lực từ ngày 9/7/2004). Chính sách mới này liên quan đến khoản “ký quỹ liên tục” mà tất cả các nhà nhập khẩu phải thực hiện. Theo quy định trước đây, để bảo đảm nghĩa vụ thuế cho toàn bộ hàng nhập, nhà nhập khẩu chỉ phải thực hiện một khoản ký quỹ tương đối vừa phải (thường là khoảng 50.000 USD), và có thể đăng ký bảo lãnh tại một công ty bảo lãnh với mức phí vừa phải. Tuy nhiên, CBP đã quyết định tăng khoản ký quỹ đối với hàng nhập khẩu nông thủy sản đã có lệnh áp thuế chống phá giá (và thuế chống trợ giá...). Nguyên nhân là do mối lo ngại rằng một số nhà nhập khẩu có thể không đóng thuế trong trường hợp mức thuế cuối cùng nhiều hơn đặt cọc tiền mặt thuế ước tính ban đầu.
Trong khi việc thực hiện hướng dẫn này còn thay đổi, các mặt hàng nhập khẩu chịu thuế chống phá giá hiện nay được cho là đối tượng bị áp dụng chính sách mới của CBP về kỹ quỹ liên tục chủ yếu là nông thủy sản, trong đó có cá file đông lạnh (từ Việt Nam); tôm đông lạnh (từ Brazil, Trung Quốc, Ecuador, Ấn Độ, Thái Lan, và Việt Nam)... Danh sách này tương ứng với hàng tỷ đôla kim ngạch mậu dịch hàng năm của Mỹ. Và CBP cảnh báo sẽ mở rộng phạm vi của quy định mới này sang các sản phẩm khác trong tương lai.
Yêu cầu mới của CBP là từng nhà nhập khẩu các mặt hàng trên sẽ phải thực hiện 3 điều: (a) nhân giá trị toàn bộ hàng nhập khẩu trong năm vừa qua với mức đặc cọc thuế chống phá giá hiện tại (tạm tính); (b) cộng thêm 50.000 USD và (c) làm tròn để ra một khoản ký quỹ mới. Vì vậy, giả sử trong năm vừa qua một công ty đã nhập khẩu 80 triệu USD một sản phẩm chịu mức thuế đặt cọc chống phá giá hiện tại là 5%, khoản ký quỹ mới sẽ là 4,1 triệu USD, thay vì 50.000 USD theo quy định cũ. Chi phí cho khoản ký quỹ mới này quá lớn, đồng thời dẫn đến rủi ro đối với các công ty bảo lãnh sẽ tăng lên đáng kể. Kết quả là các công ty bảo lãnh đang yêu cầu các nhà nhập khẩu phát hành thư tín dụng ít nhất bằng giá trị của khoản ký quỹ (mà ngân hàng của các nhà nhập khẩu chắc chắn sẽ yêu cầu thế chấp toàn bộ), cộng với trả phí bảo hiểm hàng năm. Từ đó chi phí để kinh doanh các sản phẩm đang chịu lệnh áp thuế chống phá giá đã tăng lên rất nhiều.
Trên thực tế, CBP đã phải chịu áp lực ngày càng tăng trong việc đảm bảo thu đủ các khoản thuế chống phá giá kể từ năm 2000 khi Đạo luật Bù đắp thiệt hại do hàng nhập khẩu bán phá giá và được trợ giá ("CDSOA”) bắt đầu có hiệu lực. Đạo luật này được biết đến với cái tên “Tu chính án Byrd” theo tên của Thượng nghị sỹ Robert Byrd (D-WV), người đã đưa nó ra thông qua tại Quốc hội mà không qua thảo luận dưới hình thức phụ lục bổ sung, một việc cần làm đối với một đạo luật thuộc diện phân bổ ngân sách “buộc phải thông qua”. Đạo luật này quy định tiền thuế chống phá giá cuối cùng sẽ được chia trợ cấp cho các công ty trong nước vốn đã được bảo hộ bằng các loại thuế nhập khẩu, chứ không đưa vào ngân khố liên bang. Các ngành công nghiệp vốn đã được bảo hộ ngay sau đó đã coi tiền trợ cấp theo Tu chính án Byrd là một thứ quyền lợi, kể cả khi đạo luật này bị Hội đồng Phúc thẩm của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) phán quyết là bất hợp pháp, khi hành động trả đũa đã được cho phép áp dụng đối với hàng xuất khẩu từ Mỹ để đáp trả đạo luật này, và khi cả Tổng thống Clinton và Tổng thống George W. Bush đều đã kêu gọi bãi bỏ đạo luật.
Trong một số phiên điều trần tại Quốc hội, các công ty có đủ điều kiện hưởng trợ cấp từ tiền thuế theo Tu chính án Byrd đã yêu cầu tăng cường các biện pháp thi hành thuế chống phá giá liên quan đến một số nhà nhập khẩu hàng nông thủy sản từ Trung Quốc. Đây chính là nguyên do dẫn đến hướng dẫn mới của CBP. CBP cũng đã báo cáo lý do xảy ra tình trạng thất thu thuế chống phá giá ngày càng tăng từ năm này sang năm khác, chủ yếu là từ hàng nông thủy sản của Trung Quốc. Trong bản báo cáo thực hiện CDSOA FY thường niên năm 2004 của mình, CBP đã báo cáo thất thu tổng cộng 260 triệu USD tiền thuế chống phá giá, trong đó 82% là thuế đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc (tôm nước ngọt - 170 triệu USD; tỏi - 25 triệu USD; và nấm rơm - 18 triệu USD), đồng thời hướng dẫn của CBP cũng chỉ dẫn chiếu cụ thể đến các lệnh áp thuế chống phá giá đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc (tôm nước ngọt và tỏi) trong phần giải thích động cơ đưa ra hướng dẫn mới. Người ta ngờ rằng, mục tiêu chủ yếu của CBP khi đưa ra chính sách này chính là một số nhà nhập khẩu từ Trung Quốc. Thông thường, CBP sẽ đưa ra chính sách xử lý sai phạm theo từng trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên, CBP, thay vì lựa chọn một quá trình hành động phù hợp, lại ban hành hướng dẫn đi ngược lại cả luật pháp Mỹ và các nghĩa vụ của Mỹ với tư cách là thành viên WTO. Mặc dù CBP rõ ràng chỉ nhận thấy vấn đề phát sinh đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, chính phủ Mỹ không thể nhằm vào một mình Trung Quốc do bị hạn chế bởi các quy định về cấm phân biệt đối xử của WTO (còn gọi là chế độ tối huệ quốc hay MFN). Kết quả là CBP đã đưa ra một hướng dẫn chính sách áp dụng đối với tất cả các sản phẩm nông thủy sản chịu lệnh áp thuế chống phá giá/chống trợ giá từ tất cả các nước liên quan.
Chính sách mới do CBP áp dụng chỉ giải quyết được rất ít tình trạng thất thu thuế. Vô hình trung, nó lại đi trừng phạt những nhà nhập khẩu không hề có lỗi trong vấn đề này. CBP chỉ yêu cầu một số rất ít các nhà nhập khẩu tôm nước ngọt từ Trung Quốc tăng khoản ký quỹ của họ theo chính sách mới và tương tự đối với trường hợp tỏi và nấm rơm. Thay vào đó, CBP dường như đang sử dụng nguồn lực của họ để thi hành chính sách mới đối với các nhà nhập khẩu tôm từ sáu quốc gia đang chịu lệnh áp thuế chống phá giá mới, mà đối với các trường hợp này không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy việc thu thuế chống phá giá có vấn đề.
Hơn nữa, chính sách của CBP có thể bị một số nhà nhập khẩu lạm dụng. Bởi Luật Chống phá giá cho phép các nhà nhập khẩu từ “các nhà xuất khẩu mới” đảm bảo việc đặt cọc thuế chống phá giá bằng trái phiếu đối với từng lần nhập khẩu thay vì đặt cọc bằng tiền mặt, đây là một kẽ hở của pháp luật đã bị một số nhà nhập khẩu lợi dụng và CBP cũng chưa có chính sách kiểm soát chặt chẽ. Nếu các công ty tránh việc nộp thêm thuế bằng cách lợi dụng các quy định về nhà xuất khẩu mới thì chưa rõ chính sách mới của CBP ngăn chặn việc này như thế nào.
Cũng giống như Tu chính án Byrd, chính sách mới của CBP cũng không phù hợp với Hiệp định về Chống phá giá của WTO. Được coi là “một hành động cụ thể chống lại việc bán phá giá”, nhưng chính sách này trái với quy định tại Điều 18.1 của Hiệp định Chống phá giá (và, tương tự đối với thuế chống trợ giá, Điều 32.1 của Hiệp định về Trợ giá và các Biện pháp Bù đắp). Chính sách của CBP, về bản chất, không hơn gì một loại trái từ cây mang chất độc là Tu chính án Byrd.
Hướng dẫn mới của CBP là một trường hợp điển hình của việc chủ nghĩa bảo hộ thương mại trong chính trị và đang tạo ra nhiều bất cập. CBP có quá nhiều quyền hành để quy định áp dụng các khoản ký quỹ dựa trên sự đánh giá nguy cơ đối với từng nhà nhập khẩu trong từng trường hợp cụ thể, dù có hay không liên quan đến hàng hóa chịu lệnh áp thuế chống phá giá và của bất kỳ sản phẩm nào xuất khẩu từ bất kỳ quốc gia nào. Thẩm quyền của CBP trong việc thực hiện chính sách mới về trái phiếu liên tục đang bị nghi ngờ một cách nghiêm trọng và chắc chắn sẽ sớm bị kiện tại tòa án. Điều chắc chắn là chính sách bất cập này đang cản trở quan hệ thương mại của Mỹ với nhiều nước trên thế giới, liên quan đến nhiều sản phẩm mà không có cơ sở pháp lý nào.
| Bài viết này mang tựa đề "Đối với hàng nông thủy sản nhập khẩu, Luật thuế Chống phá giá của Mỹ giờ đây trở nên phiền phức hơn bao giờ hết". Giữa lúc ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam cũng như 5 nước khác trong vụ kiện chống bán phá giá tôm đang lao đao vì gánh nặng tiền đặt cọc phải nộp trước cho hải quan Mỹ khi thông quan vào thị trường này, bài báo của 2 luật sư góp thêm một tiếng nói cảm thông và cùng lên án chính sách bảo hộ của Washington. Kenneth J. Pierce và Matthew R. Nicely, đồng tác giả bài báo, đang làm việc cho hãng luật danh tiếng Willkie Farr & Gallagher, đại diện pháp lý của Việt Nam trong vụ kiện tôm. |
S.L.