Thứ năm, 11/1/2007, 04:17 GMT+7

Sẽ đẩy mạnh đưa lao động sang thị trường nghìn đô

Cục trưởng Nguyễn Thanh Hòa. Ảnh: H.K.

Năm 2006, Việt Nam đã đưa 78.800 lao động đi làm việc ở nước ngoài, vượt 5% kế hoạch. Nhiều thị trường mới như Trung Đông, Canada, Australia và Mỹ bắt đầu được khai thông. VnExpress đã có cuộc trao đổi với Cục trưởng Quản lý lao động ngoài nước Nguyễn Thanh Hòa xung quanh lĩnh vực này.

- Nhìn lại một năm qua, ông đánh giá thế nào về công tác mở rộng thị trường xuất khẩu lao động?

- Năm 2006, có 2-3 điểm nhấn về thị trường. Thứ nhất là Trung Đông, mặc dù chúng ta rục rịch nhiều năm rồi, nhưng khởi sắc phải là năm qua. Sau chuyến đi của Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng, chúng ta đã làm quyết liệt hơn, cụ thể hơn. Kết quả là hợp đồng ký kết nhiều, với tổng lao động xuất khẩu trên 10.000, trong đó đã xuất cảnh trên 5.000. Năm nay dự kiến con số phải là 10.000-20.000 lao động, tập trung vào Quatar, U.A.E. và Ảrập Xêút. Đây là thị trường tiềm năng, không hạn chế số lượng, thu nhập cao hơn Malaysia, lại đa dạng ngành nghề, từ lao động phổ thông đến cán bộ quản lý.

Thứ hai, chúng ta đang và sẽ đẩy mạnh đưa lao động sang thị trường đòi hỏi trình độ tay nghề và ngoại ngữ cao, như Mỹ, Australia, Canada. Thị trường này có lợi thế là thu nhập rất cao. Đơn cử Australia, lương tối thiểu của người lao động là 41.800 USD/năm.

Năm 2006, cả nước xuất khẩu được 78.850 lao động và chuyên gia. Trong đó, Malaysia là 37.940 người; Đài Loan 14.120; Hàn Quốc 10.570; Nhật Bản 5.360; Lào 4.370; Quatar 2.620; UAE 1.740; Ảrập Xêút 205; Bruney 178; thị trường khác trên 280 người. Thu nhập của lao động gửi về nước đạt trên 1,6 tỷ USD.

Thứ ba, mảng thị trường truyền thống cũng khởi sắc. Lần đầu tiên kể từ khi đưa tu nghiệp sinh sang Nhật Bản, Việt Nam đạt con số 5.000. Từ nay đến 2010, chúng ta phấn đấu vượt 10.000. Điều này rất ý nghĩa, bởi thị trường Nhật Bản khó tính, thị phần không rộng mở, buộc phải cạnh tranh với quốc gia khác.

Thị trường Malaysia vẫn ổn định, chủ yếu dành cho người nghèo. Còn thị trường Đài Loan, ta tiếp tục làm việc với bạn để sớm chấp nhận đầy đủ lao động của ta. Hiện lãnh thổ này vẫn duy trì lệnh dừng tiếp nhận người giúp việc gia đình và chăm sóc bệnh nhân, ban hành từ đầu năm 2005.

- Lao động rất háo hức với thị trường Mỹ. Việc xúc tiến đưa lao động sang thị trường này thế nào?

- Mỹ là thị trường khó tính, đòi hỏi lao động kỹ thuật cao, có ngoại ngữ. Bù lại, điều kiện làm việc, thu nhập của lao động tại Mỹ rất cao. Tùy thuộc vào công việc, vào quy định mỗi bang, mức lương trung bình 10 USD/giờ.

Hiện có 2 doanh nghiệp là Công ty Cổ phần tiến bộ Quốc tế AIC và Trung tâm XKLĐ Viracimex được cho phép thí điểm một hợp đồng 6 lao động đi làm thợ hàn tại Mỹ. Chúng ta đang thông mạch xem còn có gì vướng mắc không.

1 tháng trước, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã trình Thủ tướng đề án xuất khẩu lao động sang Mỹ. Hiện còn chờ ý kiến Thủ tướng, nếu được mở rộng thì chúng ta sẽ làm, nhưng phải thận trọng và chắc chắn, đặc biệt phải tôn trọng pháp luật của hai nước.

- Theo ông, thách thức lớn nhất trong công tác xuất khẩu lao động năm 2007 là gì?

- Đó là chất lượng lao động. Đây không phải là vấn đề của mỗi lĩnh vực xuất khẩu lao động mà là của cả quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới khi Việt Nam gia nhập WTO. Nhiệm vụ then chốt của năm nay là phải đổi mới toàn diện đào tạo lao động xuất khẩu. Đây là giải pháp để chuyên nghiệp hóa đội ngũ doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Có được cái này, ta không "sợ" một thị trường nào.

Trước đây, quy định doanh nghiệp phải có cơ sở đào tạo, nhưng nay phải làm rõ cơ sở đó phải đạt tiêu chuẩn thế nào. Điều kiện cơ sở đến đâu thì vào thị trường đến đấy. Phương hướng là doanh nghiệp liên doanh, liên kết với cơ sở đào tạo trong nước để đầu tư thiết bị, giáo viên, chương trình. Thứ hai là nhà nước khuyến khích, nghiên cứu chính sách để doanh nghiệp có cơ sở đào tạo riêng. Quy mô không cần hoành tráng, mà quan trọng là phải có chương trình đào tạo tốt, giáo trình, đội ngũ giáo viên tốt.

Ra Tết, Cục sẽ đi khảo sát một số nước có kinh nghiệm đào tạo lao động xuất khẩu, như Philippines, xem họ kết hợp đào tạo với xuất khẩu lao động thế nào.

- Lao động bỏ trốn đã và đang cản trở Việt Nam mở rộng thị trường lao động. Bộ đã ra được văn bản chống trốn. Ông đánh giá thế nào về hiệu quả của những văn bản này?

- Để chống trốn, năm qua, một trong những giải pháp quan trọng là đã ban hành được nghị định 141 và sắp tới là nghị định của Chính phủ quy định xử lý hành chính trong lĩnh vực này. Nghị định mới sẽ rút kinh nghiệm nghị định 141, ví dụ thủ tục xử lý còn phức tạp, hiệu quả xử lý chưa cao thì lần này ta phải sửa.

So với các năm trước, hiện tượng lao động bỏ trốn năm 2006 đã giảm, nhất là ở Nhật Bản. Nếu như trước kia, lao động xuất khẩu của Việt Nam tại Nhật trốn 350-400 người mỗi năm, thì năm qua giảm còn hơn 60. Với Hàn Quốc, tôi tin rằng với hành lang pháp lý đã có và sắp được bổ sung, tỷ lệ trốn dứt khoát sẽ giảm.

- Theo nghị định 141, Cục là cơ quan đề nghị công an điều tra, truy tố lao động Việt Nam ở nước bỏ trốn. Cục đã triển khai nhiệm vụ này thế nào?

- Đối với Đài Loan, nơi có tỷ lệ bỏ trốn cao, Cục đang hoàn chỉnh hồ sơ khoảng 500 trường hợp trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp, gửi sang cơ quan tố tụng. Tiến độ phụ thuộc vào phía Đài Loan, nhưng cố gắng trong tháng 1, sẽ dứt khoát xong thủ tục và đến tháng 2 thì có văn bản đề nghị các cơ quan tố tụng điều tra, truy tố, xét xử.

Hồng Khánh thực hiện

Link Site
Bài nhiều người đọc
Nỗi kinh hoàng của cư dân thoát nạn từ chung cư bị cháy
Cận cảnh đốt hầm Thủ Thiêm ở độ sâu 20m dưới sông
Video
Hành khách lơ lửng trên cáp treo
Bạn cần cài Flash Player để xem được Clip này.
Tìm việc nhanh
Ngành:
Địa điểm:
CareerLink
 
Ảnh đẹp
Phượng trắng làm say lòng khách thưởng lãm
SỰ KIỆN BẠN ĐỌC QUAN TÂM
Cháy chung cư 18 tầng Cá mập tấn công người
Hầm Thủ Thiêm El Nino hoành hành
Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 12 Điện cột đèn giật chết người
Tai nạn nghiêm trọng tại Keangnam Rò rỉ ở hầm Kim Liên
 
Lien he quang cao