Xây dựng cơ bản: Nợ đọng lớn, trả chưa 'nghiêm'
 |
| Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Ngân sách Nguyễn Đức Kiên đọc báo cáo giám sát. Ảnh: Anh Tuấn |
Báo cáo sáng nay tại Quốc hội của Chính phủ và báo cáo giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về quy hoạch, đầu tư, nợ đọng, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản đều thống nhất thực trạng: Quy hoạch yếu, đầu tư dàn trải, lãng phí và thất thoát lớn, nợ đọng nhiều.
Báo cáo của Chính phủ về thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ trong cả nước, kết quả khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tình hình nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả thấp và chống thất thoát trong xây dựng cơ bản do Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Võ Hồng Phúc trình bày, nêu lên 5 yếu kém trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, bao gồm: Chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa có tầm nhìn xa (tiêu biểu là ngành điện, xi măng, hệ thống cảng, quy hoạch đô thị). Quy hoạch chưa phù hợp với cơ chế thị trường, xuất phát từ ý muốn chủ quan, chưa chú ý thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế. Việc lồng ghép các quy hoạch ngành chưa gắn với quy hoạch vùng, quy hoạch vùng chưa gắn với quy hoạch chung của cả nước. Tính cục bộ, khép kín trong các quy hoạch gây lãng phí nguồn lực do phát triển chồng chéo. Quy hoạch chưa được thường xuyên cập nhật, bị lạc hậu và không thể làm căn cứ để xây dựng kế hoạch.
Các biện pháp được nêu ra để khắc phục tình trạng trên là nhanh chóng tạo khuôn khổ pháp lý cho công tác quy hoạch, đổi mới nội dung và phương pháp lập quy hoạch, chấn chỉnh công tác lập - phê duyệt - quản lý quy hoạch, tăng cường công tác kiểm tra giám sát cộng đồng với quy hoạch và xây dựng đội ngũ cán bộ quy hoạch.
Tình trạng đầu tư dàn trải được nêu lên hàng đầu trong 4 mặt tồn tại về thực hiện kế hoạch đầu tư. Bố trí vốn thiếu tập trung là điểm yếu lặp đi lặp lại nhiều năm, số dự án đầu tư mới cao hơn số dự án kết thúc trong mỗi kỳ, vốn bình quân cho một dự án có xu hướng giảm, nhiều bộ, ngành, địa phương không thực hiện đúng quy định về quản lý đầu tư. Tuy nhiên, các giải pháp khắc phục được nêu lên trong báo cáo là dành cho thời gian tới. Kết quả khắc phục vào thời điểm hiện tại không thể hiện rõ nét trong báo cáo.
Thất thoát lãng phí vẫn còn lớn mà hiện tại chưa thể khẳng định con số chính xác do chưa kiểm toán. Qua thanh tra một số công trình trong các năm 2002-2003, tỷ lệ sai phạm tài chính là từ 13.6% đến 19% số vốn.
Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn chưa cao, nhất là vốn ngân sách. Vốn tín dụng đầu tư phát triển, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước cũng được đánh giá là kém hiệu quả. Báo cáo của Chính phủ nêu lên tình trạng nợ quá hạn, nợ kéo dài. Đặc biệt, 2 chương trình đánh bắt xa bờ và mía đường có số nợ quá hạn và lãi treo chiếm tới 40% nợ quá hạn và lãi treo của toàn hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển.
Báo cáo thừa nhận công tác quản lý đầu tư còn nhiều yếu kém, thể hiện cả ở phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ. Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì chính cơ chế các bên (chủ đầu tư, chủ dự án, quản lý dự án, tư vấn, thẩm định, phê duyệt, thi công, giám sát, kiểm tra, thanh tra, thanh quyết toán) cùng nằm trong một bộ đã tạo ra những đường dây khép kín trong việc chạy dự án, chạy vốn đầu tư, khó kiểm tra, giám sát, khó phát hiện vi phạm hoặc có phát hiện nhưng chậm ngăn chặn thất thoát, lãng phí, sai phạm.
Các khoản nợ xây dựng cơ bản được đánh giá là vượt quá khả năng cân đối ngân sách nhà nước. Tổng số nợ xây dựng cơ bản hiện thống kê được khoảng 11.000 tỷ đồng. Sau khi rà soát theo chỉ đạo của Chính phủ, loại trừ các khoản nợ ngoài kế hoạch, vượt dự toán... thì số nợ đến hết năm 2002 vẫn còn gần 5.000 tỷ đồng, và số nợ báo cáo của năm 2003 khoảng 4.600 tỷ đồng. Báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ sung: Ngoài nợ đọng vốn đầu tư xây dựng liên quan tới nguồn ngân sách, nợ đọng lớn và kéo dài còn xảy ra ở các dự án sử dụng các nguồn vốn khác: Số dư nợ vốn của 5 ngân hàng thương mại nhà nước của các đơn vị thi công, tính đến hết tháng 6/2004, gần tới 25.000 tỷ đồng, trong đó hơn 1.340 tỷ đồng quá hạn. Thiếu văn bản pháp quy, các bộ ngành, địa phương thiếu trách nhiệm, khả năng cân đối vốn ngân sách hạn hẹp trong khi nhu cầu đầu tư lớn, việc tạm ứng vốn năm sau để thi công công trình năm trước diễn ra phổ biến là những nguyên nhân dẫn tới tình hình nợ đọng lớn.
Việc xử lý các khoản nợ này chủ yếu trông vào ngân sách. Thủ tướng đã phải cho tạm ứng 4.278,8 tỷ đồng từ ngân sách để xử lý nợ của các bộ ngành trung ương. Các địa phương ngoài việc phải tìm thêm các nguồn vốn khác, thì còn phải dùng phần ngân sách thu vượt kế hoạch để thanh toán nợ. Tiền Giang phải dành toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản, Quảng Nam dành 80% để thanh toán nợ. Tuy nhiên Uỷ ban thường vụ Quốc hội đánh giá rằng với số nợ tồn đọng hiện nay của các địa phương (chưa tính đủ là 7.500 tỷ đồng), vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2004 do các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quản lý gần 32.200 tỷ đồng, thì việc dành 1.730 tỷ giải quyết nợ đọng là không thoả đáng, thể hiện việc chấp hành Nghị quyết của Quốc hội chưa nghiêm.
Ủy ban thường vụ Quốc hội nhấn mạnh các nguyên nhân chủ quan trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản: Thiếu trách nhiệm, vì lợi ích cục bộ và vì thành tích nên đã quyết định đầu tư sai; Cố ý làm sai, vi phạm pháp luật, nhiều vụ việc sau khi báo chí nêu lên mới được xử lý; Cán bộ thiếu chuyên môn được giao quản lý... Tình trạng quy hoạch yếu, ngoài nguyên nhân chưa được coi trọng đúng mức còn có lý do đầu tư cho quy hoạch rất ít, chỉ đạt 0,004% vốn dành cho xây dựng. Kinh phí quy hoạch cả năm của Bộ Công nghiệp năm 2004 thậm chí còn chưa đủ cho một dự án quy hoạch.
Theo Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cần tiếp tục triển khai giám sát sâu hơn theo chuyên đề, gắn với kế hoạch thanh tra, kiểm tra về đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý đất đai.
Q. Hà