Những đứa trẻ chết già (phần 3)
Mắt em gái ông lờ đờ. Đôi mắt ấy còn lờ đờ cho đến ngày ông vào lính và ba năm rưỡi sau, ông lê bước về. Cái chết của bố ông như nhát dao quyết định bứt hẳn ông ra khỏi làng.
Ông đến chào em gái để ra đi mặc dù lúc ấy chẳng biết đi đâu. Em gái ông đang học năm cuối của trường sư phạm trên thị xã. Nó trọ nhờ nhà một cô bạn cùng lớp. Ông bước vào căn phòng ọp ẹp, cũ kỹ. Mọi thứ đều chật cứng, tối mờ. Mùi ẩm mốc lảng vảng khắp nơi. Nó ngồi trên chiếc ghế đẩu, hơi ngả về phía sau một chút. Trên bàn, mấy cuốn sách nhàu nát vứt bừa bộn. Một chiếc gạt tàn đầy ự. Nó rít thuốc, lờ đờ nhả khói. Ông cúi khom người bước vào và thấy mặt nó trôi trong làn khói trắng đục. Mắt nó trôi đi rất xa. Ông hắng giọng gọi nó về.
- Anh đến đây làm gì? Nó hỏi, không chờ ông trả lời, nói tiếp bằng cái giọng vỡ phế quản: - Em hết tiền rồi!
Ông không tự ái mặc dù được tiếp đón bằng thái độ như thế.
- Sao mày không về chịu tang bố?
- Một người là đủ. Nó trề môi, cáu kỉnh.
Ông thở nhẹ bất lực. Chính ông cũng chẳng biết mình có hiếu hay không nữa.
- Anh đến để chia tay mày.
Ông thản nhiên ngồi xuống mép giường. Bừa bộn kinh khủng.
- Đi đâu? Nó lại hỏi.
- Không biết.
Nó thở nhẹ, tiếp tục trôi theo làn khói. Ông gấp chân gạt những vỏ hộp vào gậm giường.
- Bố mẹ biết mày thế này, hẳn các cụ sẽ không được vui! Ông ái ngại nói, lúc đó vụt nhớ đến những ngày thơ ấu. Những ngày hai anh em lấy đất ướt nặn hình những con ốc sên có cái chóp xoáy vút. Bọn ông tưởng tượng ra đủ các ngả đường cho ốc sên. Lần nào em gái ông cũng kết thúc một câu lạnh lẽo: “Bọn mình sẽ đi chu du bằng những con ốc sên này. Cho cả bố mẹ đi nữa”. Không hiểu sao ông nhìn nó khẽ rùng mình và nghĩ đến Xoan, người yêu đầu tiên hồi cấp ba.
- Em sắp có con!
Ông chồm lên khi nghe câu nói của em gái. Mắt ông lướt nhanh qua bụng nó rồi dừng lại ở đôi tay chằng chịt gân.
- Với ai? Ông hỏi, gần như hụt hơi.
- Với làng mình! Không hiểu sao đêm nào em cũng về làng.
- Mày đi bộ?
- Vâng.
Ông không tin. Nó làm sao có thể đi bộ về làng được. Ông hỏi nó yêu ai, tên gì, nhưng nó chỉ buông một câu gọn lỏn: “Núi rừng!”.
Ông ngờ nó bị tâm thần. Ngày mẹ ông mất nó không khóc, cứ ngồi thu lu trong góc nhà ngó mọi người qua lại. Không ai để ý đến nó. Cũng từ hôm ấy không hiểu sao nó ghét ông Biền đến phát sợ. Nhìn thấy ông ta nó lảng xa như tránh một con vật ghê tởm.
- Có nghĩa là mày chửa hoang? Ông lẩm bẩm một mình.
Em gái cúi xuống lôi trong gậm ghế ra chiếc nồi nhôm đen kịt. Coi như không có ông, nó loẹt quẹt vét cơm nguội, trộn với ít muối vừng, ngồi ăn một cách thản nhiên. Bụng ông sôi ầm ầm.
- Tao đói! Ông gào lên.
- Bố bảo tất cả đều phải tự lực! Nó vét nốt chỗ cơm trong cái bát da lươn nứt vành rồi lẳng bát vào gậm ghế như cũ. Nó ra ngoài vục nước quệt mồm, ông nhìn ngang thấy bụng nó đã lùm lùm.
- Tao đi đây!
Ông chán nản đứng dậy. Nó nhìn ông rất nhanh, cặp môi thoắt tái nhợt…
… Đấy là lần cuối cùng ông gặp nó. Sau này, ông nghe tin nó về làng và chết ở dưới gốc cây si như những người khác. Nó chết, trong bụng nó vẫn cựa quậy đứa con. Người làng vội vã chôn hai mẹ con nó cạnh mộ bố mẹ ông. Từ phòng nó bước ra, ông chẳng biết mình sẽ đi đâu. Ông mặc cho bước chân định đoạt. Khi bừng tỉnh, ông đã thấy mình đang ở ghềnh đá. Trời đã tối, cơn mưa đột ngột ập xuống. Người ông ướt sũng nhưng thanh thản. Ông không thấy đói mặc dù cả ngày hôm đó không có gì cho vào bụng. Sau mưa, trăng dậy lên bừng bừng. Ông đi một mình giữa khuya. Tiếng thở dài từ mỏm đá, rìa sông làm ông khựng lại. Ông thấy một người đàn bà ngồi đó, cô ta bó hai tay vào nhau, tóc rũ sau lưng. Ông muốn lùi lại, nhưng không hiểu sao chân cứ dấn lên. Người đàn bà không nhìn thấy ông, cô ta mải mê với ánh trăng bốc khói giữa mặt sông. Trên má cô ta, ánh sáng méo mó, chạy lằng nhằng. Cái dáng bất động và đôi mắt đăm đăm nhìn khiến ông liên tưởng đến vẻ tuyệt vọng của con mèo trên đầu nóc nhà giữa buổi chiều bầm tím.
Ông lầm bầm và cô ta từ từ quay nhìn. Mũi cô ta hấp háy như đánh hơi. Toàn thân ông rợn ngợp. Ông ngồi xuống cạnh cô ta. Xung quanh đã chết, chỉ còn lại sự dịch chuyển của các linh hồn.
- Ịt ẹ ày.
Ông ngạc nhiên phát hiện sau lưng người đàn bà còn một thằng bé. Nó chui nửa người trong chiếc bao tải. Thằng bé chằm chằm nhìn ông, mắt nó bắt trăng, xanh như mắt mèo.
- Con hả?
Ông hỏi, cô ta gật đầu. Thằng bé nhai cái gì trong miệng lốp cốp. Ông quờ tay vẫy nhưng nó không lại, nó co người thành một đống bùng nhùng. Thằng bé dạo đó mới được bốn năm tuổi. Nó ngọng nghịu, đôi mắt lồi ra, mũi chảy thành hai dòng đặc quánh xuống môi. Nó gầy nhỏng, đen xạm. Đêm đó ông trở thành kẻ có gia đình. Ông làm chồng, làm bố. Sau này, khi cô ta chết, ông đến với người đàn bà thứ hai, bà này sắc sảo hơn, to béo hơn, nhưng không cho ông một đứa con, một kỷ niệm nào cả.
Chiều mùa hạ. Trời vàng rực ẩn sau lớp rừng bị cháy tơ tướp đang cố gắng hồi sức. Những cơn gió hiếm hoi lóp ngóp bò lên từ lòng đất làm vô số lá khô và tàn tro bay loạn xạ khắp làng. Xa xa, về phía Tây, con đường nhỏ, gầy còm dẫn vào khe Bò Đái thấp thoáng ẩn hiện giữa những búi lau trắng phơ, dày đặc. Ánh nắng thoi thóp lê lết rút về nơi cố hữu của mình ở sau dãy đồi. Dòng Linh Nham lầm lì chuyển động, tiếng nước lục bục lúc lúc bị át đi bởi tiếng xe ô tô lao qua. Chiếc cầu nâu gỉ rên lên kèn kẹt dưới sức nặng miết xuống của những chiếc xe chở quặng từ Trại Cau về Gang thép. Làng Phan co mình dưới ánh sáng lờ đờ uể oải. Những ngôi nhà thưa thớt, mái cũ kỹ bị tốc lên trông như tóc kẻ đi ngược gió.
Lão Liêm đờ đẫn vác chiếc ghế đẩu bóng vàng ra chái nhà ngồi. Cái trán ngắn choằn của lão bóng rợn, in rõ mấy rãnh ngang đen. Mắt lão nheo nheo, một bên lông mày trĩu xuống, hai cánh mũi to phập phồng đánh hơi. Sông Linh Nham phả mùi tanh khắp làng. Vài sợi lau liệng nhẹ đùa rỡn trong cơn hứng chí im lặng. Dưới chân cầu, cạnh chỗ đất nứt, có mấy đứa trẻ cởi truồng chí choé té nước lên nhau. Nghe tiếng cụ Trường lầu bầu một mình, lão Liêm cúi đầu khó chịu, cặp môi dầy, thâm trễ xuống mệt mỏi.
- Hải, Hải đâu, ra tao bảo!
Lão quay đầu gọi nhỏ, nhưng âm thanh khỏe trầm.
Lúc sau, Hải lóp ngóp phía sau nhà chui ra, đầu vướng đầy lá khô.
- Bố gọi con?
Hải hất hàm, đôi mắt một mí, dài vút nheo lại. Lão Liêm không trả lời, nhìn thằng con từ đầu tới chân đánh giá, cân nhắc. Ở tuổi mười tám, người Hải cao, hơi xương xương, hai cánh tay đen xạm vì nắng nổi lên từng múi cơ thon dài, chắc chắn. Quai hàm hắn bạnh sang hai bên, sống mũi khoằm, gồ ghề bướng bỉnh. “Nó hơn mình ở cái trán” Lão Liêm hài lòng nghĩ, bàn tay to bè nổi thành cục bất giác đặt lên đôi lông mày. Trán Hải quả có hơn bố, nó hình thanh lộn ngược, viền khung bằng mớ tóc nâu lúc nào cũng mơn mởn như được bôi mỡ.
- Trưa mai, mày lấy xe lên thành phố đèo con Loan về. Lão Liêm nói chậm rãi.
Hải giậm chân đánh huỵch, nền đất rung lên, giọng bực bội:
- Nó có xe cơ mà, việc gì phải vất vả.
- Mất rồi, tuần trước! Bỗng dưng lão nổi cáu:
- Thôi, tao đã bảo đi là đi mà lị. Chốc nữa bảo mẹ mày cho ăn cơm trưa sớm còn đi.
Hải lẳng con dao quắm xuống đất, ngúc ngoắc chiếc đầu gồ ghề:
- Nếu thế thì đi sớm. Chả cần phải cơm nước.
- Mày điên chắc?
Lão Liêm lồng lên, mắt hấp háy, cổ nổi gân đỏ chằng chịt.
- Chẳng điên điếc gì cả. Con muốn tranh thủ xem ở đấy thế nào mà con Loan cứ suốt ngày ca ngợi nó đổi khác.
- Xem xét cái con cặc tao đây này. Mất thời gian. Sớm mai mày phải tranh thủ khơi nốt cái rãnh ao đã.
Còn tiếp
- Những đứa trẻ chết già (phần 2) (22/01)
- Tiếu ngạo giang hồ (hồi 75) (22/01)
- Bàn có năm chỗ ngồi (phần cuối) (22/01)
- Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương) (phần 1) (21/01)
- Chia tay trong đêm Hà Nội (thơ Nguyễn Đình Thi) (21/01)
- Bàn có năm chỗ ngồi (phần 20) (21/01)
- Tiếu ngạo giang hồ (hồi 74) (21/01)
- Bàn có năm chỗ ngồi (phần 19) (20/01)
- Tiếu ngạo giang hồ (hồi 73) (20/01)
- Tình yêu không lời (phần cuối) (20/01)
- Ấm nồng (thơ Đỗ Thị Thanh Bình) (19/01)
- Bàn có năm chỗ ngồi (phần 18) (19/01)
- Tiếu ngạo giang hồ (hồi 72) (19/01)
- Bài ca người lính thời bình (thơ Trần Đăng Khoa) (18/01)
- Tiếu ngạo giang hồ (hồi 71) (18/01)




E-mail
Bản In












Đặt Vnexpress làm trang chủ
Mail gửi Toà soạn
Liên hệ quảng cáo
Việc làm tại Vnexpress