Thứ ba, 1/4/2003, 03:30 GMT+7

Quyền anh thủa sơ khai

Từ thời cổ đại, con người luôn phải chiến đấu để tồn tại.

Chiến đấu bằng tay không từ xa xưa đã là một trò chơi được ưa thích. Khoảng 6.000 năm trước đây, các cuộc đấu đối kháng rất phổ biến ở Ethiopia (châu Phi), rồi từ đó truyền sang Ai Cập, vượt biển và nhanh chóng được đón nhận tại các vùng đất gần Địa Trung Hải.

Chừng 1.500 năm trước Công nguyên, tại đảo Crete (thuộc Hy Lạp), một môn thi đấu rất gần với quyền anh hiện đại đã hình thành. Cho dù phải đợi tới tận năm 668 trước Công nguyên, môn thể thao này mới được đưa vào chương trình thi đấu của đại hội Olympic, nó đã trở nên rất thông dụng ở Hy Lạp thời gian dài trước đó. Một trong những hình thức tranh tài điển hình là hai đối thủ ngồi trên hai tảng đá đặt đối diện, sau đó ra sức nện nhau túi bụi, tới chừng nào một bên bị đánh văng đi thì cuộc đấu chấm dứt. 

Cảnh phim "Gladiator" tái hiện phần nào quang cảnh trận chiến của các võ sĩ giác đấu.

Trở thành một môn thể thao ở các đại hội Olympic cổ đại, đấm bốc không quá quyết liệt như hiện nay, nhưng khi đã vào cuộc thì trận đấu chỉ dừng lại khi kẻ thắng người bại đã được phân định rõ ràng. Các võ sĩ được trang bị những dây da mỏng, quấn xung quanh bàn tay và cổ tay. Dần dần, người ta sử dụng những lớp da dày hơn, biến thành một dạng vũ khí chiến đấu, tiền thân của những chiếc găng đấm bốc hiện nay. Đến thời kỳ La Mã, các núm bằng sắt hoặc đồng thau đã được gắn thêm vào các lớp da này, làm thành một thứ vũ khí nguy hiểm. Sau đó nó còn phát triển tới mức độ tàn bạo, không phải các núm sắt nữa mà là các đinh nhọn được gắn xung quanh nắm tay. Lúc này, đây không còn là một môn thể thao nữa mà đã trở thành một trò giải trí đẫm máu cho khán giả, giống với cuộc chiến của những võ sĩ giác đấu, trong đó người sống sót là người thắng trận.

Cuối cùng, những trang bị nguy hiểm này cũng bị loại bỏ và bản thân môn đấu bốc cũng bị cấm tại Rome khoảng 30 năm trước Công nguyên. Công lao của người La Mã là đã sáng tạo ra sàn đấu, dù ban đầu nó chỉ đơn giản là một vòng tròn được vạch quanh hai đấu thủ.

Từ khi mới phát triển, quyền anh đã gây được nhiều sự chú ý.

Với việc đạo Thiên chúa lan rộng, quyền anh dưới bất kỳ hình thức nào đã hoàn toàn biến mất khỏi châu Âu và chỉ hồi sinh từ thế kỷ 17. Năm 1681, một tờ báo ở London đã đưa tin về các trận đấu. Nhà hát Hoàng gia London là nơi thường xuyên tổ chức các trận đấu vào năm 1698. Vào lúc đó, quyền anh còn pha trộn cả các thế đánh của môn vật. Dẫu chủ yếu dùng nắm đấm để hạ bằng được đối thủ, một võ sĩ vẫn có quyền tóm lấy đối phương, quật ngã, sau đó nhảy lên người và đánh tới tấp khi kẻ xấu số còn chưa kịp định thần.

Năm 1719, James Figg - người mở một học viện quyền anh tại London - đề ra tiêu chuẩn cho các kỹ năng chiến đấu. Figg vốn là một tay kiếm lão luyện, và võ đường của ông được trang trí theo kiểu các trường dạy đấu kiếm đương thời. Các động tác tránh đòn và tiến công mà Figg dạy cho học trò chính là áp dụng các thế công, thủ của một kiếm sĩ. Học viện của Figg nổi tiếng với việc sẵn sàng chấp nhận sự thách thức từ bất kỳ võ sĩ nào đến đả lôi đài. Ông chưa bao giờ thất bại và nghiễm nhiên được công nhận là nhà vô địch nước Anh cho tới tận khi giải nghệ vào năm 1730.

Nhiều người cho đấm bốc là một môn thể thao tàn bạo.

Thành công của Figg đã thúc đẩy việc thành lập thêm nhiều điểm dạy bộ môn này. Việc ông vốn là một kiếm sĩ lừng danh càng làm tăng thêm danh tiếng cho đấm bốc. Rất nhiều nhà quý tộc đã coi quyền anh nghiệp dư là một trò giải trí. Chính họ cũng là những người cổ vũ cuồng nhiệt và treo thưởng cho các trận đấu. Trong số học trò của Figg, Jack Broughton về sau này trở nên nổi tiếng và được coi như là "cha đẻ của đấm bốc nước Anh". Broughton, vô địch từ năm 1729 đến 1750, truyền nghề và điều hành luôn một đấu trường ở London. Năm 1743, ông đặt những quy định đầu tiên cho quyền anh.

Nhưng đôi khi, nó cũng mang dáng vẻ dịu dàng.

Theo đó, giữa sàn đấu có kẻ một ô vuông mỗi chiều rộng 1 m. Khi một võ sĩ bị hạ gục xuống sàn, người huấn luyện phải nhanh chóng đưa học trò của mình sang phía bên kia của hình vuông, với khoảng thời gian 30 giây. Trên thực tế, có thể coi đây là lần đầu tiên những trận đấu được chia ra thành các hiệp. Kể từ đó, mỗi lần có một bên bị knock-down, cuộc tranh tài sẽ tạm dừng ít nhất 30 giây. Các võ sĩ vẫn được ôm người đối phương như khi đấu vật, chỉ trừ phần cơ thể từ thắt lưng trở xuống. Broughton còn sáng chế ra những dụng cụ bảo vệ không chỉ bàn tay, mà còn cả khuôn mặt các võ sĩ khỏi những cú đánh. Tuy nhiên, nó mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng trong khi tập luyện chứ không phải khi thi đấu.

Tại Anh, hầu hết các quy định mà Broughton đề ra vẫn còn được áp dụng cho tới tận năm 1938, khi Hội quyền anh chuyên nghiệp (thành lập năm 1814) phát triển một bộ quy chế mang tên London Prize Ring Rules. Điểm đáng chú ý của bộ luật mới là diện tích sàn đấu được cố định trong hình vuông có cạnh dài 24 feet (hơn 7,3 m), và được bao quanh bằng 2 vòng dây. Mỗi lần một võ sĩ bị đánh ngã là chấm dứt một hiệp đấu. Sau khi nghỉ 30 giây, các tay đấm được thêm 8 giây để bước vào giữa sàn đấu mà không có sự trợ giúp của bất kỳ ai.

Lê Trần (theo Secondout)

Link Site
 
*Lịch đấu, kết quả
 
 
* Đua xe F1
Tiếp»
**Lịch đua & bảng điểm F1 2009
Người đẹp
 
BÊN LỀ SÂN CỎ
Tiếp»
GAMES THỂ THAO
Tiếp»
 
 
CÁC GIẢI ĐẤU
Champions League Ngoại hạng Anh
Serie A Primera Liga
V-League 2009
 
Lien he quang cao