Đội đua F1 McLaren International
 |
| Chiếc MP4-17D. |
Tay đua người New Zealand là Bruce McLaren lập nên đội đua này năm 1963. Xe đua của McLaren lần đầu tham dự F1 tại chặng Monte Carlo năm 1966, và hai năm sau giành được chiến thắng đầu tiên tại đường đua Spa-Franchorchamps, với chính Bruce McLaren ngồi sau tay lái.
Tuy nhiên, Bruce đã tử nạn khi thử nghiệm xe mới tại đường đua Goodwood vào ngày 2/6/1970. Công việc quản lý đội đua được Teddy Mayer và Phil Kerr tiếp quản. McLaren đã giành được cú đúp (vô địch cá nhân và đội đua) lần đầu tiên vào năm 1974, với tay đua Emerson Fittipaldi. Cũng năm đó, đội ký hợp đồng tài trợ lớn với với nhãn hiệu Marlboro của hãng thuốc lá Philip Morris. Đội đổi tên thành Marlboro McLaren.
Năm 1976, tay đua James Hunt mang về cho McLaren danh hiệu vô địch cá nhân lần thứ 2. Năm 1980, dưới ảnh hưởng của nhà tài trợ Marlboro, McLaren hợp nhất với đội đua F2 là Project Four của Ron Dennis, trở thành đội McLaren International. Công việc quản lý đội được cả Teddy Mayer và Ron Dennis cùng gánh vác. Đến năm 1984, Teddy Mayer quyết định ra đi, bán lại cổ phần của mình trong đội McLaren cho nhà tư bản Ảrập Xêút Mansour Ojjeh. Mansour Ojjeh trở thành cổ đông chính của McLaren, nắm khoảng 60% cổ phần. Mặc dù chỉ có khoảng 40% cổ phần, Ron Dennis vẫn là người trực tiếp điều hành McLaren cho đến ngày nay.
Dưới sự chèo lái của Ron Dennis, McLaren làm mưa làm gió ở giải F1 vào những năm giữa thập kỷ 80, liên tiếp giành được 3 chức vô địch cá nhân trong các năm 1984 (Niki Lauda), 1985 và 1986 (Alain Prost). Năm 1987, đội đua Williams-Honda với 2 tay đua Nigel Mansell và Nelson Piquet tỏ ra chiếm ưu thế, đoạt được cả 2 chức vô địch.
Lập tức, Ron Dennis thể hiện tài vận động hậu trường, "giật" được hãng Honda khỏi tay Williams, đồng thời đưa được tay đua huyền thoại Ayrton Senna về cặp cùng với Alain Prost, tạo thành một đội đua bất khả chiến bại trong năm 1988. Hai tay đua này thay nhau về nhất trong 15 trên 16 chặng đua, với Senna giành được chức vô địch cá nhân. Năm 1989, McLaren chiến thắng 10 trên 16 chặng đua, lần này đến lượt Alain Prost đoạt chức vô địch cá nhân. Kết thúc mùa giải, do xung khắc với Senna, Prost chuyển sang đội Ferrari. Senna ở lại còn giúp McLaren đoạt thêm 2 chức vô địch nữa vào năm 1990 và 1991, trước khi chuyển sang Williams.
Lần lượt mất đi 2 tay đua cự phách, cùng với việc hãng Honda rút khỏi giải F1 vào cuối năm 1992, McLaren bắt đầu tuột dốc. Sau một vài mùa giải đáng thất vọng, Marlboro quyết định chấm dứt hợp đồng với McLaren sau 23 năm hợp tác, chuyển sang tài trợ cho Ferrari. McLaren lập tức ký hợp đồng mới với nhãn hiệu thuốc lá West, đồng thời chuyển sang sử dụng động cơ Mercedes-Benz. McLaren dần dần trở lại là một đội mạnh. Bước ngoặt đưa đến thành công của McLaren là việc mời được chuyên gia thiết kế xe đua hàng đầu Adrian Newey về làm việc từ năm 1998. Ngay lập tức, McLaren đoạt liên tiếp 2 danh hiệu vô địch cá nhân với tay đua Mika Hakkinen vào các năm 1998 và 1999.
Trong 3 năm liên tiếp 2000, 2001 và 2002, McLaren hoàn toàn bị Ferrari và Michael Schumacher che khuất. Sự thiếu ổn định về nhân sự (Adrian Newey suýt chuyển sang Jaguar, Mika Hakkinen giải nghệ), cộng với sự yếu kém cả về công suất lẫn độ bền của động cơ Mercedes đã khiến xe của McLaren dần tỏ ra sút kém các đối thủ Ferrari và Williams. Kết thúc mùa giải 2002, McLaren đứng thứ 3 chung cuộc, thành tích thấp nhất kể từ năm 1997.
Tuy nhiên, mọi sự không phải là đã quá muộn. McLaren biết điểm yếu của mình ở đâu, Ron Dennis cùng các cộng sự đang làm việc ngày đêm để rút ngắn lại khoảng cách với đội dẫn đầu Ferrari. Sở hữu tay đua trẻ tài năng Kimi Raikkonen, chuyên gia thiết kế sừng sỏ Adrian Newey, cùng với sự trợ giúp của Mercedes-Benz, Ron Dennis có đủ những yếu tố cần thiết dẫn tới thành công. Ông tin chắc rằng những vinh quang năm xưa rồi sẽ trở lại.
| Một số thông số về đội F1 McLaren International |
| Tên đầy đủ |
F1 McLaren International |
| Bắt đầu tham gia F1 |
1966 |
| Số lần đoạt chức vô địch các đội đua |
8 |
| Số lần đoạt chức vô địch cá nhân |
11 |
| Số chặng đã tham gia |
544 |
| Số lần chiến thắng |
135 |
| Tổng số điểm |
2649 |
| Các tay đua (2003) |
David Coulthard (Scotland) Kimi Raikkonen (Phần Lan) |
| Một số thông số của chiếc xe F1 MP4-17D (2003) |
Động cơ: Mercedes-Benz (V10, 3.0 lit) Hệ thống điện/điện tử: TAG Electronic Dầu bôi trơn: Mobil 1 Giảm xóc: Penske/McLaren Khung: Sợi cacbon Lốp: Michelin Trọng lượng: 600kg (kể cả người lái) |
Đ. H. (theo F1-Live)