Vì sao thế giới không tin chính sách dầu mỏ của Mỹ? (2)
Câu chuyện về Iran chỉ là khúc dạo đầu để Washington tiếp tục thực thi chính sách đối ngoại dầu mỏ, với đối tượng là Liên Xô và Afghanistan. Năm 1977, CIA soạn thảo biên bản ghi nhớ bí mật dài 14 trang có nhan đề "Cuộc khủng hoảng dầu mỏ Liên Xô sắp xảy đến".
Cơ quan này kết luận, Liên Xô, vốn tự cung về dầu mỏ, sắp cạn kiện nguồn tài nguyên quý giá và sẽ sớm trở thành quốc gia nhập khẩu lớn. Bản báo cáo có đoạn: "Trong thập kỷ tới, Liên Xô không chỉ không thể cung cấp dầu cho Đông Âu ở mức độ hiện tại, mà còn phải thuyết phục OPEC bán dầu cho mình". Năm 1979, Matxcơva tiến vào Afghanistan. Kết luận rằng Hồng quân vào đất nước Trung Á để chiếm các giếng dầu, Tổng thống Jimmy Carter cảnh báo: "Nỗ lực nhằm giành quyền kiểm soát vùng Vịnh của thế lực bên ngoài sẽ bị coi là cuộc tấn công vào lợi ích sống còn của Mỹ, và hành động đó sẽ bị đẩy lùi bằng mọi biện pháp cần thiết, kể cả vũ lực".
Khi thay thế Carter ở Nhà Trắng một năm sau đó, Ronald Reagan lại làm bầu không khí nóng lên. Các quan chức Washington khẳng định lợi ích của Liên Xô ở Afghanistan là lý do để đất nước cộng sản giành quyền kiểm soát các giếng dầu Trung Đông. Bản báo cáo Liên Xô sắp hết dầu của CIA đã cho chính quyền Reagan cái cớ thuyết phục quốc hội Mỹ thông qua thêm ngân sách để trang bị vũ khí cho các nhóm phiến quân ở Afghanistan và thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài ở vùng Vịnh.
Ngay sau khi Reagan nhậm chức, Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger tuyên bố việc Mỹ thiết lập các căn cứ quân sự ở vùng Vịnh để "ngăn chặn hy vọng chiếm các giếng dầu của Liên Xô" là cấp thiết. Mỹ bắt đầu xây dựng các căn cứ, bán máy bay AWACS hiện đại cho Ảrập Xêút, tiến hành tập trận chung với Ai Cập và một số nước khác. CIA thì tiến hành một chiến dịch bí mật tốn kém nhất và kéo dài nhất, cung cấp số vũ khí trị giá nhiều tỷ USD cho lực lượng Afghanistan chống Matxcơva, trong đó có tên lửa Stinger, vũ khí phòng không chống trực thăng Liên Xô. Một trong những người nhận vũ khí Mỹ khi đó là Osama bin Laden.
Đồng thời, Washington còn bí mật ủng hộ Saddam Hussein. Chính quyền Reagan giữ quan điểm trung lập khi chiến tranh Iran - Iraq nổ ra tháng 9/1980. Tuy nhiên, theo các tài liệu được giải mật của chính phủ Mỹ , trước tình hình Tehran có khả năng sẽ giành thắng lợi, Washington liền bí mật ủng hộ Baghdad. Năm 1982, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Iraq ra khỏi danh sách những nước ủng hộ chủ nghĩa khủng bố. Nhờ đó, Baghdad có thể mua máy bay và các thiết bị khác phục vụ mục đích quân sự. Tuy nhiên, theo một tài liệu được giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ, chính quyền Reagan dự định dỡ bỏ hạn chế xuất khẩu 5 chất hoá học có thể sử dụng trong sản xuất vũ khí hoá học tới cả Iran và Iraq. Điều này có nghĩa Washington có thể bán vũ khí cho Iran thông qua các nhóm đối địch ở nước này.
Nguồn gốc sâu xa của chính sách này là việc chính phủ Mỹ nhận định Liên Xô sắp hết dầu, thực ra trái ngược với thực tế. Đất nước rộng lớn nhất thế giới vẫn tiếp tục sản xuất dầu mà không có chuyện gì xảy ra. Họ cũng không phụ thuộc vào việc nhập khẩu năng lượng. Đúng ra, Liên Xô đang dùng kỹ thuật thô sơ và cần các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Trên thực tế, nước Nga ngày nay là nước sản xuất dầu lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ảrập Xêút. Thay vì trở thành nước nhập khẩu dầu Trung Đông lớn, như CIA cảnh báo, Nga xuất 3 triệu thùng dầu/ngày sang các nước khác, trong đó có Mỹ.
Phần I
Nguyễn Hạnh (theo Time)