Thứ tư, 21/11/2007, 11:01 GMT+7

Mỹ và chính sách với châu Á

Dưới đây là bình luận của tờ báo Pháp Le Monde. về chính sách ngoại giao của Mỹ ở châu Á, nhân cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay tại Pakistan, đồng minh quan trọng của Washington ở châu Á trong cuộc chiến chống khủng bố.

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2000, ứng cử viên George W. Bush đã được chất vấn về chính sách đối ngoại trong một cuộc tranh luận trên truyền hình. Người ta nói ngoại giao không phải là điểm mạnh của ông ấy.

Khi ấy, một nhà báo hỏi: “Ai là tổng thống của Pakistan?”, ông Bush con bỗng nhiên có vẻ bối rối. Cuối cùng, ông trả lời: “Đó là một vị tướng. Ông ấy vừa được bầu ra. Ummm…. Cuối cùng ông ấy đã nắm được chính quyền. Nhưng chắc chắn ông ấy sẽ bình ổn được đất nước”.

Mu-sha-rraf. Bảy năm sau đó, George Bush gần như không quên cái tên này, và vị tướng-tổng thống cũng gần như không bình ổn được đất nước ông dù đã có 10 tỷ USD mà Mỹ rót cho từ năm 2001 dưới danh nghĩa “cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố toàn cầu”. Bởi các vụ khủng bố ngày 11/9 và cuộc chiến ở Afghanistan đã biến vị tướng Musharraf thành người bạn tốt nhất của Washington trong khu vực. Đúng là một người bạn chưa hoàn hảo, nhưng lại là mắt xích chính của bộ máy chống Al-Qaida.

Biểu tình, khủng hoảng chính trị ở Pakistan. Ảnh: AFP.
Biểu tình, khủng hoảng chính trị ở Pakistan. Ảnh: AFP.

Nhưng giờ đây những đòi hỏi dân chủ của phe đối lập ở Pakistan đã đặt chính quyền Bush vào một hoàn cảnh tế nhị: làm sao để tiếp tục ủng hộ mắt xích chính này trong cuộc chiến chống khủng bố mà không bỏ qua việc thúc đẩy dân chủ, điều mà về lý thuyết cũng là một mắt xích chính trong học thuyết của ông Bush?

Cuộc khủng hoảng Pakistan đã thêm vào một bản danh sách dài những thất vọng về chính sách đối ngoại của Mỹ ở châu Á, những điều dường như đang làm lu mờ thành công trong các vòng đàm phán về vấn đề hạt nhân ở CHDCND Triều Tiên.

Ở bên cạnh Pakistan, chính phủ Ấn Độ cũng đã vấp phải nhiều khó khăn vì thỏa thuận hợp tác hạt nhân Mỹ - Ấn. Thủ tướng Manmohan Singh không muốn liều mình phá vỡ liên minh vốn đã mỏng manh của ông trong nghị viện với cánh tả để cứu lấy tình bạn với Mỹ. Trong khi đó tại Washington, thỏa thuận này được coi là bước ngoặt lịch sử trong quan hệ với Ấn Độ.

Xa hơn một chút về phía Đông, Nhật Bản vốn từ năm 2001 đã điều hải quân thực hiện việc tiếp liệu cho các hạm đội Mỹ ở Thái Bình dương. Nhiệm vụ này mang tính biểu tượng cao đối với một đất nước yêu hòa bình bởi đó là sự ủng hộ ngoại giao mà họ dành cho chính sách chống khủng bố của Mỹ.

Japan Maritime Self-Defense Force destroyer JS Yuudachi (DD 103) leads a formation of ships during a September 2007 exercise in the Bay of Bengal.
Tùa khu trục JS Yuudachi (DD 103) của lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản trong một cuộc tập trận trên vịnh Bengal. Ảnh: Reuters/HO.

Nhưng sứ mệnh này - vốn cần được quốc hội Nhật gia hạn nếu muốn tiếp tục - lại đang gặp trở ngại từ phe đối lập Dân chủ.

Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates vừa kết thúc chuyến thăm châu Á, đến Bắc Kinh, qua Seoul và Tokyo. Tại những điểm đến này, ông đã cố thuyết phục cho sự trở lại của hải quân ở Nhật. “Chúng ta là sức mạnh châu Á, với những lợi ích lớn trong khu vực”, ông Gates đã tuyên bố như vậy hồi tháng 6 trước một hội nghị chuyên gia về quốc phòng và ngoại giao của châu Á và phương Tây tại Singapore.

Nếu ông Gates cho rằng nhận định như vậy là có ích, thì nhiều người lại không nghĩ thế. Suy nghĩ điển hình ở châu Á hiện nay, là cuộc chiến Iraq và nỗi ám ảnh của Mỹ về “cuộc chiến chống khủng bố” đã đơn cực hóa các lực lượng và nguồn lực của Mỹ, đẩy các kế hoạch ngoại giao khác của Mỹ xuống hàng thứ yếu.

“Một số người nghĩ rằng chúng ta đang đã bỏ qua châu Á", Bộ trưởng Gates thừa nhận. "Nhưng trên thực tế, chúng ta lại đang can dự nhiều hơn bao giờ hết”.

Thật không may cho ông, hai tháng sau đó, đồng nghiệp của ông ở Bộ Ngoại giao, bà Condoleezza Rice, hoãn kế hoạch tham gia Diễn đàn khu vực châu Á ở Manilla vào phút chót vì những quan ngại cấp bách hơn ở Trung Đông. Còn Tổng thống Bush thì khẳng định không tham gia một hội nghị thượng đỉnh nào với các nước Đông Nam Á. Những người bạn châu Á của Mỹ, ban đầu khá hiểu nhau, đã cảm thấy bị xúc phạm.

Sau đó, George Bush đã cố gắng xoa dịu ở Sydney vào tháng 9 vừa qua, trong hội nghị cấp cao APEC. Tại đây, ông Bush đã nói với các lãnh đạo Đông Nam Á rằng: “Bằng chứng để thấy rằng các bạn là những người bạn rất thân thiết, đó là tôi mời tất cả các bạn đến Crawford”. Không ai nghi ngờ sự hấp dẫn của một dịp cuối tuần tại trang trại của Tổng thống Mỹ ở Texas đối với các nguyên thủ quốc gia châu Á, chưa nói đến các phu nhân của họ. Nhưng lời mời này dường như lại không tạo ra một cảm giác phấn khởi cuồng nhiệt.

Sự thiếu vắng các cam kết của Mỹ ở châu Á cũng có hệ quả của nó. Tại Đông Nam Á, Trung Quốc đã xuất hiện để bù đắp vào những lỗ hổng ngoại giao. Sức quyến rũ mãnh liệt của Bắc Kinh, cộng với những lợi ích kinh tế hiển nhiên cho nhiều phía, đã làm tăng sức nặng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, ở chính những quốc gia vốn có quan hệ rất mật thiết với Mỹ, nhất là trong lĩnh vực an ninh.

“Indonesia và Pakistan là hai mắt xích mang tính sống còn để chiến thắng chủ nghĩa khủng bố”, ông Gates đã tuyên bố như vậy. Nhưng đó chính là điều mà người ta chỉ trích các quan chức Mỹ ở đây: cái gì cũng nhìn qua lăng kính chủ nghĩa khủng bố. Nhiều nước châu Á cũng muốn nói về môi trường, về sự thay đổi khí hậu, hợp tác kinh tế và thương mại, nói một cách khác là về “sức mạnh mềm”.

Đức Đan (theo Le Monde)