Thứ tư, 8/6/2005, 08:57 GMT+7

Dược thảo hỗ trợ điều trị viêm não Nhật Bản

Vị thuốc hoàng cầm.

Trong y học cổ truyền, viêm não Nhật Bản thuộc nhóm ôn bệnh với các triệu chứng sốt cao, co giật, mê sảng, hôn mê, trụy mạch ngoại biên. Việc áp dụng thêm các bài thuốc Đông y có thể làm tăng hiệu quả điều trị của Tây y và giảm bớt di chứng.

Viêm não Nhật Bản là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, hay xuất hiện về mùa hè. Đây là một bệnh cấp tính, phát bệnh và chuyển biến nhanh chóng; cần điều trị kịp thời để tránh tử vong và di chứng. Bệnh biến chuyển theo các giai đoạn: khởi phát; toàn phát chưa có biến chứng; toàn phát có biến chứng mất nước, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch; hồi phục và di chứng.

Các dược thảo hỗ trợ điều trị viêm não Nhật Bản gồm:

Bạc hà: Có tác dụng kháng khuẩn, làm tăng bài tiết mồ hôi, hạ sốt. Dùng trị ngoại cảm phong nhiệt, phát sốt không ra mồ hôi. Ngày dùng 4-8 g lá hãm uống, phối hợp với các vị khác.

Cam thảo: Có tác dụng an thần, hạ nhiệt và giải độc với các chất độc và độc tố vi khuẩn. Ngày dùng 4-10 g sắc hoặc hãm uống.

Câu đằng: Có tác dụng an thần, thanh nhiệt, chữa kinh giật ở trẻ em. Ngày dùng 12-16 g dạng thuốc sắc.

Câu kỷ: Quả chín phơi khô (câu kỷ tử) có tác dụng tăng cường: khả năng miễn dịch của cơ thể, hoạt động của đại thực bào, hiệu quả của kháng thể, số lượng tế bào có kháng thể hình thành trong mô lách, lượng globulin miễn dịch trong huyết thanh. Vỏ rễ phơi khô (địa cốt bì) có tác dụng hạ sốt, kháng khuẩn và kháng virus cúm. Ngày dùng 6-12 g câu kỷ tử hoặc 9-15 g địa cốt bì, sắc nước uống hoặc dùng dạng hoàn tán.

Dành dành: Có tác dụng an thần, hạ sốt, giảm đau, ức chế tụ cầu vàng và màng não cầu khuẩn, giải độc. Đã được dùng từ lâu để chữa sốt, bồn chồn khó ngủ. Ngày dùng 6-12 g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Hoàng cầm: Có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus viêm gan B, chống viêm, chống dị ứng, chống choáng phản vệ gây bởi nội độc tố và chống lại độc tính của một số chất. Được dùng làm thuốc an thần, chống co giật, chữa sốt cao kéo dài, trị rối loạn chức năng hệ thần kinh, động kinh, co giật, mất ngủ. Ngày uống 6-15 g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột.

Hoàng liên: Có tác dụng kháng khuẩn và kháng virus cúm, an thần, hạ sốt, được dùng điều trị bệnh nhiễm khuẩn và sốt cao. Ngày uống 3-4 g hoàng liên hoặc 0,4-1 g hoạt chất berberin.

Huyền sâm: Có tác dụng kháng khuẩn, an thần, giải độc, được dùng làm thuốc hạ sốt, chống viêm trong điều trị các chứng sốt nóng, phát ban. Ngày dùng 4-12 g sắc uống.

Kim ngân: Có tác dụng kháng khuẩn, chống choáng phản vệ; được dùng làm thuốc trị sốt, chống dị ứng. Ngày dùng 4-6 g hoa hoặc 10-16 g cành lá sắc uống.

Liên kiều: Liên kiều và các hoạt chất forsythosid có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, hạ sốt. Tinh dầu hạt liên kiều ức chế virus cúm, dùng chữa phong nhiệt, cảm sốt. Ngày dùng 10-20 g, sắc uống.

Lô căn (rễ sậy): Hạ sốt, ra mồ hôi, lợi tiểu; được dùng làm thuốc chữa sốt, sốt cao phát cuồng, bí tiểu tiện. Ngày dùng 8-20 g sắc uống.

Mạch môn: Kháng khuẩn, chống viêm, được dùng làm thuốc chữa sốt cao, mất ngủ. Ngày dùng 6-20 g dạng thuốc sắc.

Nhọ nồi: Kháng khuẩn, kháng virus, chống viêm, chống dị ứng, cầm máu. Được dùng trị một số bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm virus. Ngày dùng 12-20 g, sắc uống.

Sinh địa: Điều hòa miễn dịch, chống ôxy hóa, an thần; dùng trị sốt, đặc biệt sốt do nhiễm khuẩn. Ngày dùng 9-15 g, sắc uống.

Thạch xương bồ: Có tác dụng kháng khuẩn, an thần, hạ sốt, giảm đau, chống co giật động kinh, cải thiện sự suy giảm chức năng hệ thần kinh, giải độc. Ngày dùng 3-8 g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Tri mẫu: Có tác dụng kháng khuẩn, hạ sốt, được dùng làm thuốc trị các bệnh sốt và nhiễm khuẩn. Ngày dùng 8-16 g sắc uống.

Điều trị bệnh ở giai đoạn đầu chưa có biến chứng: Trệu chứng gồm sốt, hơi sợ lạnh, có mồ hôi hoặc ít mồ hôi, đau đầu, lơ mơ, gáy hơi cứng, tinh thần tỉnh táo, cơ thể co giật. Dùng một trong các bài:

Thạch cao 40 g; hạt muồng (thảo quyết minh) sống, kim ngân hoa mỗi vị 16 g; chi tử (dành dành), cam thảo nam, cát căn, cỏ nhọ nồi, sinh địa mỗi vị 10 g. Sắc uống ngày một thang.

Thạch cao 40 g; kim ngân hoa, lô căn mỗi vị 16 g; liên kiều, hoàng cầm mỗi vị 12 g, bạc hà 8 g. Nếu sốt nặng, buồn nôn, thêm hoắc hương 12 g, hậu phác 6 g. Sắc uống ngày một thang.

Điều trị bệnh ở giai đoạn toàn phát có biến chứng: Có các biến chứng mất nước, rối loạn điện giải, nhiễm độc thần kinh, rối loạn thành mạch. Các triệu chứng gồm sốt cao, nhức đầu, cổ gáy cứng, miệng khát, co giật, hôn mê, lưỡi đỏ, nhịp thở thất thường. Dùng một trong 2 bài thuốc:

Thạch cao 40 g; cam thảo nam, kim ngân mỗi vị 16 g; sinh địa, mạch môn, hoàng đằng, huyền sâm mỗi vị 12 g. Nếu táo bón thêm chút chít 20 g sắc uống ngày một thang.

Thạch cao 40 g; tri mẫu, kim ngân, huyền sâm, sinh địa mỗi vị 16 g; hoàng liên, liên kiều mỗi vị 12 g; cam thảo 4 g. Nếu co giật nhiều, thêm thạch quyết minh (cốt khí muồng) 40 g, câu đằng 20 g, địa long 16 g. Nếu hôn mê, thêm trúc lịch 30 ml. Sắc uống ngày một thang.

Giai đoạn hồi phục và di chứng: Một số bệnh nhân sau khi hết sốt sẽ hồi phục dần dần, một số người do sốt kéo dài lâu ngày nên mất tân dịch, một số có di chứng thần kinh, tinh thần. Các bài thuốc:

Sinh địa, mạch môn, sa sâm, huyền sâm mỗi vị 12 g; a giao 10 g, câu kỷ tử 8 g. Nếu táo nhiều, thêm trúc lịch 30 ml. Nếu mất tân dịch nhiều, tay chân co giật, run, chất lưỡi đỏ khô, thêm quy bản, miết giáp, mẫu lệ mỗi vị 12 g. Bài này chữa tổn thương tân dịch do sốt kéo dài, sốt về chiều, miệng khô, chất lưỡi đỏ.

Bạch thược, sinh địa mỗi vị 12 g; mộc qua, đan sâm, thanh táo, đương quy mỗi vị 8 g, địa long 6 g. Sắc uống ngày một thang, chữa di chứng thần kinh ngoại biên, tay chân co quắp, run.

Mẫu lệ 16 g; quy bản, sinh địa, mạch môn, cốt khí muồng mỗi vị 12 g; sa sâm, địa long mỗi vị 8 g; thạch xương bồ 6 g. Sắc uống ngày một thang, chữa di chứng tinh thần, lú lẫn, không nói, sốt về chiều, lưỡi đỏ.

Địa hoàng 3.000 g; liên nhục, củ mài mỗi vị 2.000 g; mạch môn, long nhãn nhục mỗi vị 1.000 g; tâm sen 500 g. Liên nhục, củ mài tán bột, các vị khác sắc đặc lấy nước, làm thành viên. Ngày uống 16-20 g, chia 2-3 lần. Nếu sốt nhiều, thêm huyền sâm, dành dành. Nếu co giật nhiều, thêm thiên ma, câu đằng. Nếu bệnh nhân còn mê man chưa tỉnh, thêm thạch xương bồ. Bài này chữa di chứng viêm não ở trẻ em.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Link Site
 
 
 
 
 
Lien he quang cao