Phát hiện và điều trị bệnh van hai lá
Căn bệnh này có ở 30% số người đang điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam. Van hai lá là một van dễ tổn thương và có nhiều bệnh lý nhất trong số 4 van của tim. Trong đó, hẹp, hở và sa là 3 bệnh lý tiêu biểu ở bộ phận này.
Hẹp van hai lá
Đó là tình trạng tắc nghẽn hoặc hẹp ở van hai lá, thường do thấp tim gây ra. Bệnh nhân thường khó thở, nhịp tim nhanh, mệt mỏi, đau ngực, choáng váng, ho ra máu.
Điều trị nội khoa: Dùng các thuốc làm giảm nhịp tim (để tăng lượng máu từ nhĩ xuống thất ở mỗi chu kỳ của tim), thuốc ức chế men chuyển hóa, thuốc nhóm nitro, thuốc chống đông...
Điều trị ngoại khoa: Nong, mổ tách hoặc thay van hai lá. Với những bệnh nhân hẹp hai lá khít mà lá van không bị vôi hóa quá mức, có thể chọn cách nong hoặc mổ tách van. Những bệnh nhân sau nong van hai lá có thể phải dùng chống đông hoặc không, tùy theo nguy cơ tắc mạch. Bệnh nhân có nhịp tim không đều bắt buộc phải dùng thuốc chống đông.
Hở van hai lá
Có nhiều nguyên nhân, thường gặp nhất là do thấp tim, sa van hai lá, tổn thương van tim do viêm nội tâm mạc, hoặc tổn thương dây chằng, cột cơ sau nhồi máu cơ tim. Một số trường hợp hở van hai lá do bệnh cơ tim, tăng huyết áp, hở van động mạch chủ... (những bệnh này làm vòng van giãn ra). Tùy thuộc vào nguyên nhân, hở van hai lá có thể xảy ra đột ngột hoặc từ từ.
Với hở van hai lá từ từ, triệu chứng bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm. Kích thước buồng tim trái sẽ lớn lên, gây các triệu chứng như khó thở, mệt mỏi. Có thể điều trị bằng các thuốc lợi tiểu, giãn mạch (thuốc ức chế men chuyển) và phẫu thuật (sửa hoặc thay van hai lá). Trong phẫu thuật, thời gian là yếu tố quan trọng. Không nên mổ quá sớm khi chưa có triệu chứng; cũng không nên mổ quá muộn bởi có nhiều nguy cơ tử vong ngay trên bàn mổ. Sau phẫu thuật, bệnh nhân thường cải thiện tốt triệu chứng lâm sàng.
Nếu hở hai lá xảy ra đột ngột (như sau nhiễm khuẩn nội tâm mạc hoặc sau nhồi máu cơ tim), phẫu thuật thay van phải được làm khẩn cấp.
Sa van hai lá
Bệnh này khá phổ biến, chiếm khoảng 5% dân số, hay gặp ở phụ nữ, một số bệnh nhân có yếu tố di truyền. Tùy thuộc mức độ sa mà bệnh nhân có các triệu chứng khác nhau như đau ngực, mệt mỏi. Sa van hai lá thường phối hợp với hở hai lá.
Sa van hai lá thường nhẹ, nhưng nó cũng có thể tiến triển nặng thêm. Ở những bệnh nhân nặng thường có kèm rối loạn nhịp tim, viêm nội tâm mạc, tai biến mạch máu não hoặc đột tử (rất hiếm gặp, do rối loạn nhịp). Như vậy, điều quan trọng là làm sao để tìm ra trong số bệnh nhân sa van hai lá lành tính những người cần điều trị để ngăn ngừa bệnh nặng lên do phối hợp với các bệnh trên.
Để chẩn đoán sa van hai lá, cần khám lâm sàng và siêu âm tim. Nếu bệnh nhân không có hở hai lá, không có rối loạn nhịp, nguy cơ mà bệnh gây ra là rất thấp.
Những thuốc làm giảm co bóp cơ tim như chẹn bêta có thể làm giảm triệu chứng sa van hai lá. Bệnh nhân nên tránh rượu, cà phê, thuốc lá.
ThS Phạm Như Hùng, Sức Khỏe & Đời Sống