Thứ hai, 26/8/2002, 11:33 GMT+7

Những điều cần biết về ghép thận

Sơ đồ hệ tiết niệu.

Hơn 80% trường hợp ghép thận đạt kết quả tốt. Tỷ lệ thành công sẽ cao hơn nếu các mô của người cho phù hợp đặc biệt với mô của người nhận. Người được ghép thận vẫn sống bình thường, có thể đi công tác, du lịch và tập thể thao (cần tránh những môn thể thao nặng). Phụ nữ được ghép thận vẫn có thể mang thai.

Kỹ thuật ghép thận được áp dụng cho những bệnh nhân suy thận. Nó khắc phục được 2 nhược điểm của phương pháp lọc máu ngoài thận, đó là quá gò bó và tốn kém (bệnh nhân phải suốt đời tuân thủ chế độ lọc máu 3 lần mỗi tuần hoặc lọc máu mỗi ngày nhiều giờ).

Việc thử nghiệm ghép thận trên chó được tiến hành vào năm 1902. Năm 1947, các nhà y khoa bắt đầu ghép thận trên người, lấy thận từ tử thi. Năm 1952, ca ghép thận của người hiến còn sống (mẹ cho con) được thực hiện, thận ghép chỉ sống được 22 ngày. Hai năm sau, ca ghép thận đầu tiên giữa anh em sinh đôi đã thành công, người nhận thận sống bình thường.

Để kéo dài đời sống của thận ghép, nhiều loại thuốc chống thải ghép đã được nghiên cứu và áp dụng, chẳng hạn như: corticoide và azathioprine (1963), huyết thanh chống Lymphocut (1966), ciclosporine (đầu thập kỷ 80). Hiện nay, có nhiều loại thuốc ức chế miễn dịch đang được nghiên cứu.

Hai bước chính của quá trình ghép thận bao gồm:

1. Lấy thận ở người cho

Thận ghép có thể được lấy ở một người đã tử vong hoặc người hiến còn sống. Trong trường hợp thứ 2, điều kiện để cho thận là sức khỏe của người hiến không bị ảnh hưởng sau ca phẫu thuật; thận còn lại vẫn hoàn thành tốt toàn bộ công việc của cả 2 thận. Tốt nhất là người cho có sự gần gũi với người nhận về mặt di truyền.

Người ta thường lấy thận trái của người cho vì tĩnh mạch thận trái dài hơn tĩnh mạch thận phải, phù hợp hơn với việc cấy ghép. Có thể lấy cả 2 thận của tử thi để ghép. Thận sau khi lấy ra sẽ được bảo quản trong một dung dịch đặc biệt.

2. Ghép thận vào người nhận

Nối động mạch và tĩnh mạch thận hiến vào hệ thống mạch máu của người nhận.

Thận sẽ được ghép vào vùng hố chậu người nhận (khác với vị trí thông thường của nó) vì ở vị trí này, việc phẫu thuật sẽ dễ dàng hơn. Bác sĩ nối các mạch máu của thận ghép với các mạch máu người nhận (hình 1), sau đó nối niệu quản của thận ghép vào bàng quang hoặc niệu quản của người bệnh (hình 2).

Sau khi ghép, bệnh nhân phải

Hình 2: Nối niệu quản của người hiến và người nhận. 
dùng thuốc chống miễn dịch để tránh thải trừ mảnh ghép. Khi này, họ cần được theo dõi chặt chẽ vì thuốc chống thải sẽ làm giảm khả năng tự vệ của cơ thể đối với vi khuẩn và virus. Để tránh viêm nhiễm, bệnh nhân cần giữ vệ sinh thân thể và răng miệng thật tốt, tránh tiếp xúc với người mắc các bệnh truyền nhiễm.

Ghép thận là loại ghép tạng hay được thực hiện nhất. Nếu thất bại thì hậu quả của nó cũng không quá nặng nề như ghép tim, gan hoặc phổi. Trong trường hợp đó, bệnh nhân sẽ lại lọc máu ngoài thận như trước. Sau này nếu khỏe mạnh, họ có thể ghép thận lại một lần nữa.

GS Phạm Gia Cường, Khoa Học & Đời Sống

Link Site
 
 
 
 
 
Lien he quang cao