Thứ tư, 13/2/2002, 08:00 GMT+7

Những vị thuốc mang tên ngựa

Cây mã đề.

Cây mã đề (gọi như vậy vì lá cây này rất giống móng chân ngựa) tính hàn, không độc, có tác dụng lợi tiểu, thanh phế, trừ đờm, sáng mắt... Lá tươi giã nát đắp có thể làm mụn nhọt chóng vỡ và mau lành. Mã đề làm thuốc lợi tiểu, chữa ho và lỵ (cả cấp tính và mạn tính) rất tốt.

Cây mã đề cho các vị thuốc có tên sau:

- Mã đề thảo: Toàn cây, trừ bỏ rễ, phơi hoặc sấy khô.

- Lá mã đề: Lá tươi hay khô.

- Xa tiền tử: Hạt tươi hay sấy khô.

Mã thầy

Củ mã thầy.

Còn gọi là củ năng, tính hàn, vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, mát máu, giải độc, lợi tiểu, tiêu thực, trừ chướng, trừ đờm, được dùng để trị chứng sởi ở trẻ em, mồm khô, họng khát, ho phế nhiệt có đờm vàng đặc, bệnh vàng da... Mã thầy ăn sống rất tốt đối với người bị đại tiện ra máu, trĩ.

Cả vỏ thân, thân, lá và củ đều được dùng làm thuốc, thu hái gần như quanh năm.

Mã đề nước

Còn gọi là cây trạch tả, mọc ở các ao ruộng, vùng ẩm ướt của Lào Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Cao Bằng. Cây cao 0,3- 1 m, thân rễ trắng, hình cầu hay hình con quay, lá mọc ở gốc hình trứng thuôn.

Mã đề nước chủ yếu được dùng làm thuốc thông tiểu, chữa bệnh thũng nước trong viêm thận.

Mã tiền

Quả mã tiền.

Tại Việt Nam, loại cây này chỉ thấy mọc ở Nam Bộ. Mã tiền rất độc. Người bị ngộ độc mã tiền có triệu chứng hay ngáp, nước dãi chảy nhiều, nôn mửa, sợ ánh sáng, mạch chảy nhanh, tứ chi cứng đờ, bắp thịt co lại, ngạt thở rồi chết.

Trong Đông y, mã tiền dùng làm thuốc kích thích thần kinh, tăng cường cơ, chữa tê liệt, đau nhức sưng khớp. Vì thuốc có chất độc nên khi dùng phải hết sức cẩn thận.

Mã liều

Chính là cây rau răm, thân mọc bò, từ mỗi đốt lại đâm ra nhiều rễ, có từng phần thân mọc thẳng đứng. Toàn thân và lá tỏa ra mùi thơm đặc biệt. Lá đơn mọc so le, cuống ngắn, được trồng khắp nơi, chủ yếu được dùng làm gia vị cho món ăn hằng ngày.

Mã liều có tác dụng kích thích tiêu hóa, chữa rắn cắn và bệnh hắc lào.

Mã tiên thảo

Còn gọi là cỏ roi ngựa, một loại cây cỏ dài, thẳng, có đốt như cái roi ngựa. Thân cây nhỏ, sống dai, cao 0,4-1 m, lá mọc đối, xẻ thùy lông chim. Hoa mọc ở ngọn, hoa nhỏ màu xanh, lưỡng tính. Cỏ roi ngựa mọc hoang ở khắp nơi và được thu hái vào mùa thu, khi cây đã ra hoa và một số cây đã kết quả. Có thể dùng tươi hoặc khô.

Cỏ roi ngựa ít độc, có vị đắng, hơi hàn, được dùng chữa bệnh lở ngứa ở hạ bộ, tiểu chướng, sát trùng, thông kinh. Nhân dân ta thường lấy cỏ roi ngựa tươi giã lấy nước uống, bã đắp lên tổn thương để chữa mụn nhọt, sưng vú.

Mã xỉ hiện

Còn có tên khác là rau sam. Cây mọc lan trên mặt đất, thân mọng, màu tím đỏ, lá dày hình thìa, xanh sẫm. Rau sam vị chua, nhớt, mát, có tác dụng nhuận tràng, giải độc, tiêu viêm, sát trùng, thanh nhiệt, chữa bệnh về gan, đường ruột, trị mụn nhọt, khô da... Cách dùng: Nấu canh hoặc giã, ép lấy nước để uống.

Mã liên an

Còn gọi là hà thủ ô trắng, dây sữa bò. Cây có củ, thân dây, lá to mỏng, mọc leo hoặc lan trên đất, phổ biến ở miền trung du và ven bờ ruộng một số vùng đồng bằng. Tương truyền, ngày xưa có một ông tướng đang cưỡi ngựa đi đường thì bị trúng cảm, ngã ra bất tỉnh, may được thầy thuốc gần đó dùng một loại cây cứu chữa khỏi. Sau đó, ông tướng đã biếu thầy thuốc cả ngựa lẫn yên để tạ ơn. Từ đấy loài cây này mang tên mã liên an (nghĩa là “ngựa liền yên”).

Toàn bộ lá, dây, củ của mã liên an đều có thể dùng làm thuốc (dùng tươi hoặc sấy khô). Thuốc có vị đắng, tính bình, trị được các chứng suy nhược thần kinh, thiếu máu, bệnh phong thấp, tê bại, đau xương, mỏi gối, bạch đới, khí hư, kinh nguyệt không đều và chữa rắn cắn.

Ké đầu ngựa

Cây và quả ké đầu ngựa.

Còn mang các tên khác là thương nhĩ, xương nhĩ. Cây cao chừng 1,4-2m, lá mọc so le, mép răng cưa, phủ lông ngắn, cứng. Quả già hình thoi, có móc, trẻ em đùa nghịch nếu ném quả vào tóc nhau thì rất khó gỡ ra. Cành, lá, quả được điều chế thành thuốc. Thuốc có vị ngọt, hơi đắng, ấm, tính bình, tác dụng tiêu độc, sát trùng, chữa bướu cổ (do chứa nhiều chất iốt), trị tê bại, phong hàn, mẩn ngứa, mụn nhọt, viêm mủ...

Cá ngựa

Còn mang các tên khác là hải mã, hải long, thủy mã, sống ở vùng biển nước ta, đầu có dạng giống đầu ngựa, thân dài trung bình 15 - 20 cm, màu trắng, vàng hoặc xanh đen. Người ta đem cá ngựa mổ bỏ nội tạng, uốn đuôi cho cong, phơi hay sấy khô rồi tán thành bột hoặc ngâm vào rượu.

Trong y học cổ truyền, nó là thứ thuốc vị ngọt, hơi mặn, ấm, tính bình, có tác dụng giảm đau, hưng phấn, kích thích sinh dục, chữa thần kinh suy nhược, cơ thể mệt yếu (nhất là ở người cao tuổi), nam giới liệt dương, phụ nữ đau bụng, đẻ khó hoặc chậm có thai.

Bọ ngựa

Còn mang tên khác là ngựa trời, đường lang. Loài sâu bọ này màu xanh vàng, đầu nhỏ hình tam giác, hai càng dạng lưỡi liềm gấp, bụng to, cánh dài. Bọ ngựa được sấy khô, tán bột, trở thành vị thuốc hơi ngọt, tính bình, dùng chữa trẻ em kinh phong, co giật.

Tổ bọ ngựa trên cây dâu được dùng làm thuốc với tên tang phiêu diêu. Loại tổ này úp dính chặt vào cành dâu, màu nâu trắng, hình mũ dài với các khía ngang, hơi xốp, rất dai, bên trong thường chứa trứng bọ ngựa. Tang phiêu diêu được bóc tách, sấy khô, tán bột, cũng mang vị ngọt, tính bình, dùng chữa nam giới liệt dương, di tinh, mộng tinh, phụ nữ bế kinh.

Sức Khỏe & Đời Sống, Khoa Học & Công Nghệ