Thứ tư, 2/5/2001, 04:53 GMT+7

Bệnh cận thị gia tăng trong học sinh

Tại Hà Nội, điều tra 906 học sinh THCS phát hiện được gần 100 em mắc bệnh cận thị. Còn ở khối THPT, điều tra trên 553 em thấy có 74 em bị cận thị, chiếm tỷ lệ 13,5%, cao hơn nhiều so với số học sinh bị cận thị vào những năm 1960-1970 là 4,1% (học sinh nội thành) và 1,6% (học sinh ngoại thành).

BS Nguyễn Ngọc Oánh, Vụ Y tế Dự phòng, Bộ Y tế, cho biết: "Đến giờ vẫn chưa có một cuộc điều tra cơ bản nào một cách sâu rộng và toàn diện về tình trạng mắc bệnh cận, loạn thị trong học sinh nên chưa thể có một đánh giá chính xác. Tuy nhiên, theo những con số từ vài địa phương gửi về báo cáo Bộ Y tế, có thể thấy rằng tình trạng học sinh mắc bệnh cận, loạn thị đang gia tăng".

Theo BS Oánh, cận thị có xu hướng gia tăng do:

- Chế độ học tập quá tải.

- Thời gian nghỉ ngơi vui chơi bị thu hẹp.

- Thời gian làm việc căng thẳng của mắt nhiều lên như đọc nhiều sách báo, xem tivi, chơi trò chơi điện tử, sử dụng máy vi tính nhiều...

Vấn đề ánh sáng tại các lớp học cũng đáng lo ngại. Theo số liệu của Bộ Y tế:

- Tại Hà Nội, kiểm tra 500 mẫu chiếu sáng ở các trường học, có 11% thấp dưới mức quy định.

- Nam Định có 5/20 trường đạt tỷ lệ chiếu sáng tự nhiên, 11/20 trường không đạt (do bóng cây che).

- Tại Thừa Thiên-Huế, kiểm tra 30% số trường học ở các huyện và thành phố, cho thấy chỉ 59% trường cấp I có đủ ánh sáng.

Hai loại cận thị
Theo bác sĩ Lê Thu Hiền (Vụ Y tế Dự phòng, Bộ Y tế), cận thị được chia làm 2 loại:

- Cận thị đơn thuần (tật cận thị): bắt đầu ở tuổi đi học, nghĩa là 6-18 tuổi. Cận thị sẽ phát triển trong nhiều năm, có khi khá nặng rồi sau đó có thể ngừng lại. Cận thị phát triển nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào lứa tuổi bị cận thị:

+ Nếu dưới 8 tuổi đã bị cận thị thì mỗi năm tăng 1diop.

+ Nếu từ trên 8 tuổi đến 10 tuổi thì thường cứ 3 năm tăng thêm một diop. Sau 4-5 năm, mức độ tăng cũng sẽ ngừng lại, nhưng sau đó lại có những đợt phát triển mới làm mức cận thị nặng thêm (như trong thời kỳ thai nghén, khi mắc bệnh lao, thương hàn...).

- Cận thị bệnh: cận từ 7 diop trở lên, có khi tới 15- 20 diop. Nhãn cầu dài và dãn to. Củng mạc bị dãn, khiến cho mắt hơi lồi và mắt vận động chậm chạp lờ đờ. Giác mạc bị teo, võng mạc về sau cũng sẽ bị tổn hại, làm cho thị giác giảm sút nghiêm trọng.

Những tác hại khó lường

Tác hại của tật cận thị là khá rõ:

- Ảnh hưởng đến quá trình học tập vì không nhìn rõ chữ và hình vẽ trên bảng (do không đeo kính), việc đọc và viết chậm hơn, dễ nhầm dấu, sót chữ.

- Các em thường mau bị mệt mỏi, nhức đầu, kém tập trung, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày.

- Trẻ thường chậm chạp, dễ gây tai nạn.

- Một số ngành nghề không tuyển dụng những người có tật cận thị.

- Biến chứng nguy hiểm nhất của tật cận thị là bong võng mạc và hậu quả là gây mù.

Biện pháp phòng chống

- Ở trường học, vấn đề ánh sáng phải được đảm bảo. Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, ánh sáng ở phòng học phải đạt từ 100 lux trở lên. Khi xây dựng trường học phải tuân theo các yêu cầu về chiếu sáng tự nhiên. Trần và tường phòng học nên quét vôi màu sáng, không nên quét màu xanh vì độ phản xạ ánh sáng kém. Bàn ghế phải phù hợp với tầm vóc học sinh. Luôn uốn nắn tư thế ngồi học đúng cho học sinh, khoảng cách từ mắt đến sách vở là 25-30 cm.

- Ở gia đình, cần bố trí góc học tập gần cửa sổ, để sử dụng ánh sáng tự nhiên. Buổi tối cần có đèn đủ sáng. Sách vở nên sử dụng giấy trắng mực tốt, chữ rõ...

- Cần có chế độ học tập khoa học. Khi học ở nhà, tốt nhất là cứ sau 1 giờ lại nghỉ giải lao 5-10 phút để mắt đỡ mệt mỏi.

- Cần ăn nhiều hoa quả để đảm bảo dinh dưỡng cho mắt.

(Theo Lao Động, 2/5)

Link Site
 
 
 
 
 
Lien he quang cao