Quy định mới của TAND Tối cao có gây khó dễ luật sư?
TAND Tối cao đang lấy ý kiến các cơ quan chức năng về dự thảo thông tư hướng dẫn thủ tục cấp và thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa. Theo đó, để được tham gia vụ án, luật sư phải trình cơ quan tiến hành tố tụng 3 loại giấy tờ; đồng thời đáp ứng đầy đủ một số yêu cầu khác.
Ba loại giấy tờ gồm: văn bản nhờ luật sư bào chữa của bị can, bị cáo; người bị tạm giữ hoặc người đại diện hợp pháp của họ; văn bản của văn phòng luật sư cử luật sư bào chữa và thẻ luật sư.
Dự thảo còn quy định, luật sư chỉ được cấp giấy chứng nhận người bào chữa khi "đáp ứng đầy đủ" các yêu cầu sau. (1) đã gia nhập đoàn luật sư nơi mình cư trú, có chứng chỉ hành nghề luật sư và được cấp thẻ; (2) là thành viên hoặc làm việc theo hợp đồng với văn phòng luật sư và không thuộc các trường hợp pháp luật cấm hành nghề, cấm tham gia tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng phải "xem xét luật sư có đáp ứng đủ các yêu cầu" đó không thì mới cấp giấy chứng nhận người bào chữa.
Theo luật sư Phạm Thanh Bình (Đoàn Luật sư Hà Nội), quy định về các yêu cầu này sẽ tạo điều kiện cho cơ quan tố tụng lạm quyền, vươn sang cả lĩnh vực quản lý nhà nước hoạt động của luật sư - vốn là chức năng của Bộ Tư pháp. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành kiểm tra cả tính hợp pháp trong việc hành nghề luật sư, như đòi hỏi phải xuất trình thêm chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động của văn phòng (có ghi tên luật sư được cử bào chữa)... Với quy định này, luật sư tập sự có thể mất quyền tham gia tranh tụng bởi chưa được cấp chứng chỉ hành nghề.
Trong dự thảo có nêu, trường hợp đặc biệt đương sự nhờ đích danh luật sư bào chữa thì không cần có văn bản của văn phòng luật sư cử người đó đi bào chữa nữa. Như vậy, một luật sư có thể "qua mặt" văn phòng để làm việc trực tiếp với khách hàng, trong khi Pháp lệnh Luật sư quy định luật sư chỉ có 2 hình thức hành nghề là văn phòng luật sư hoặc công ty luật hợp danh.
Văn bản nhờ luật sư bào chữa, có cần thiết? Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chung, người bào chữa khi xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa phải trình văn bản đề nghị và giấy tờ liên quan việc bào chữa. Trong quá trình tập huấn Bộ luật và cả trong dự thảo thông tư, TAND Tối cao hướng dẫn một trong những giấy tờ liên quan đó là "văn bản nhờ luật sư bào chữa". Đây có thể là hợp đồng dịch vụ pháp lý, đơn nhờ luật sư bào chữa, văn bản của cơ quan tố tụng về việc thỏa thuận mời luật sư bào chữa...
Theo luật sư Phạm Hồng Hải, Đoàn luật sư Hải Phòng, việc này làm rắc rối thêm thủ tục hành chính - tư pháp liên quan hoạt động của luật sư. Bởi thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 trước đây, hầu như chưa có cơ quan tiến hành tố tụng nào yêu cầu luật sư xuất trình văn bản này. Cả người bào chữa và cơ quan tố tụng mặc nhiên hiểu rằng văn phòng luật sư (hay đoàn luật sư trước đây - theo Pháp lệnh luật sư cũ) chỉ cấp giấy giới thiệu cử luật sư khi có người mời.
Quy định này thiếu tính khả thi trong trường hợp bị can, bị cáo bị tạm giam, tạm giữ. Với giấy mời bào chữa của thân nhân người bị tạm giam trên tay, luật sư vẫn có thể bị cơ quan tố tụng từ chối vì "bị can không mời anh". Trường hợp bị can Lương Quốc Dũng và Thọ "Đại Úy" là ví dụ.
Một vướng mắc lâu nay trong hoạt động luật sư là trình và thu giữ giấy chứng nhận người bào chữa chưa được thông tư đề cập. Với nhiều luật sư, tờ giấy này như "thông hành" cho họ vào trại giam gặp thân chủ. Nhưng một cái "lệ" đang được áp dụng ở hầu hết các trại là mỗi lần tới gặp thân chủ, luật sư phải nộp lại giấy chứng nhận người bào chữa gốc. Có nghĩa là muốn gặp đương sự vài lần, luật sư cũng phải xin được vài giấy chứng nhận. Chỉ một số trại tạm giam lớn có máy photocopy thì "linh động" giữ bản sao.
Điều kiện thuận lợi để luật sư gặp gỡ, trao đổi với người đang bị tạm giam cũng chưa được bàn tới. Luật sư Phạm Thanh Bình cho biết, trước đây người bào chữa không bị hạn chế thời gian gặp gỡ thân chủ. Nhưng ngay sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực với một số quy định dân chủ hơn thì việc này không hiểu sao bị thắt lại. Nhiều trại giam viện dẫn Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành năm 1998 chỉ cho luật sư nói chuyện với thân chủ trong một giờ. Trong thời gian ngắn ngủi đó, hai bên lại không được tự do trao đổi với nhau bởi luôn có điều tra viên hoặc quản giáo "gườm gườm" ngồi bên giám sát. Chuyện liên quan vụ án, bị can chỉ muốn thổ lộ với luật sư của mình đã không thể nói ra...
Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) Nguyễn Văn Thảo cho biết, theo quan điểm của Bộ, luật sư chỉ phải trình 2 loại giấy tờ khi xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Đó là, văn bản cử luật sư bào chữa của văn phòng luật sư và thẻ luật sư. Bởi người có thẻ luật sư do Bộ Tư pháp cấp đương nhiên đủ điều kiện về các chứng chỉ, bằng cấp để hoạt động luật sư. Trưởng văn phòng chỉ cử luật sư tham gia vụ việc khi văn phòng hoặc đích danh luật sư đó được đương sự trong vụ án mời.
Bộ Tư pháp còn kiến nghị thay đổi hẳn cách cấp giấy chứng nhận người bào chữa theo từng cơ quan tố tụng như hiện nay. Theo đó, nếu luật sư có đủ điều kiện và được thân chủ mời tham gia từ giai đoạn điều tra đến hết xét xử thì không phải tới từng cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm để xin giấy chứng nhận người bào chữa nữa. Họ chỉ cần một bản là được tham gia cả quá trình tố tụng.
Về phạm vi hướng dẫn của dự thảo, Bộ Tư pháp cho rằng phải mở rộng sang các điều kiện, thủ tục cần thiết để người bào chữa có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can; có mặt trong những hoạt động điều tra liên quan đến người mà mình bào chữa. Thông tư cũng phải quy định các điều kiện đảm bảo người bào chữa được gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam.
(Theo Pháp Luật TP HCM)