Lương tăng nhanh hơn tăng trưởng GDP
Mức tăng lương của lao động phổ thông là 7,8%/năm, còn GDP trung bình tăng 7,5%. Đây vừa là dấu hiệu tốt của nền kinh tế, vừa cho thấy các doanh nghiệp đang phải chạy đua để giữ nhân viên của mình và lôi kéo người từ nơi khác.
Dự án Khảo sát tiền lương (Vietnam Salary Survey 2005) đã phân tích dữ liệu 208 công ty trong và ngoài nước với 35.000 nhân viên làm việc ở mọi ngành nghề. Kết quả cho thấy, lao động phổ thông có mức lương cơ bản hằng năm tăng 7,8% (giai đoạn 2004-2005); nhân viên văn phòng bao gồm các chuyên gia và giới quản lý tăng 10%. Mức tăng lương cao hơn tăng trưởng kinh tế (khoảng 7,5%). "Đây là có thể coi là yếu tố tích cực trong phát triển kinh tế song cũng chứng tỏ cuộc chiến giành giật nhân lực có trình độ cao ngày càng gay gắt. Nhiều công ty có nguy cơ mất đi những nhân viên tốt nhất chỉ vì đối thủ của họ đưa ra lời mời chào hậu hĩnh hơn", ông Jensen nói.
Doanh nghiệp có thể sẽ nhận được một công cụ đề phòng nguy cơ mất những nhân viên giỏi. Ông David Jensen, Giám đốc Dự án tuyên bố sẽ cung cấp các báo cáo lương cho doanh nghiệp vào 15/7.
Theo ông David Jensen, báo cáo lương có thể giúp doanh nghiệp so sánh với các công ty đối thủ. Nhờ đó, đơn vị có thể xác định các vị trí có nguy cơ mất nhân viên mà có kế hoạch củng cố những vị trí chủ chốt, tăng cường tuyển dụng và tối đa hóa chiến lược đầu tư vào nhân lực.
Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ mất nhân viên trung bình của thị trường là 18,3% trong năm 2004 và 2005. Các vị trí nhân viên trong doanh nghiệp có tỷ lệ mất không đều nhau. Ở cấp bậc quản lý chiếm 18,2%, chuyên viên là 14,8%, nhân viên và công nhân khoảng 23%.
Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp, việc chi trả lương thực chất là một hình thức đầu tư chứ không đơn thuần là chi phí của doanh nghiệp. Do đó, điều họ mong chờ ở kết quả khảo sát là việc chuẩn hóa mức lương cho các vị trí công việc. Việc đối chiếu mức lương ở những vị trí đã được chuẩn hóa với các đối thủ cạnh tranh sẽ giúp họ hoạt động ổn định với nguồn nhân lực của mình. Hiện thế giới có 220 vị trí công việc được chuẩn hóa theo cách đo điểm chuẩn để so sánh, đối chiếu và thực hiện khảo sát lương theo một chức danh công việc.
Theo ông Jensen, Việt Nam chưa thể nhận dạng được các tiêu chuẩn cho từng công việc theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này cũng ngoài "tầm với" của cuộc khảo sát.
Ông cho biết, chế độ lương của các công ty trong nước tăng nhanh hơn các công ty nước ngoài từ 2% đến 3% trong năm 2005. Việc các công ty trong nước đang tích cực rút ngắn khoảng cách thấp hơn 34% về mức lương đối với các công ty nước ngoài cũng khẳng định diễn biến phức tạp từ thị trường lao động.
Một phát hiện đáng kể nữa từ cuộc khảo sát là trình độ học vấn đang có tác động ngày càng lớn tới khả năng thu nhập. Những lao động có chứng chỉ kỹ thuật trung bình có thu nhập cao hơn những người chỉ tốt nghiệp trung học 42%. Những người lao động tốt nghiệp cao đẳng lại có khả năng thu nhập cao hơn lao động có chứng chỉ kỹ thuật 51%. Đặc biệt, những người có bằng đại học có thu nhập cao hơn người có bằng cao đẳng tới 103%. Như vậy, khoảng cách về thu nhập tính theo bằng cấp có ý nghĩa rất lớn, cho thấy giáo dục đang ảnh hưởng theo cấp số nhân tới cơ hội thăng tiến, phát triển nghề nghiệp và khả năng đạt mức sống cao hơn.
Tuấn Dũng