Thứ năm, 28/4/2005, 03:20 GMT+7

Cỗ máy sản xuất công nghiệp tiếp tục lấy đà

Công nghiệp phụ trợ vẫn non yếu. Ảnh: Ảnh Tuấn

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 ước đạt gần 37.400 tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Sau khi đi qua một phần tư quỹ thời gian đầu tiên của năm với tốc độ tăng trưởng thấp hơn mong đợi, ngành sản xuất quan trọng này đang lấy lại đà cho đợt tăng tốc đầy kỳ vọng tiếp theo.

Công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn nổi lên như một nhân tố quan trọng, giúp vực dậy tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành. Số liệu mới công bố của Tổng cục Thống kê cho thấy, tháng 4, giá trị sản xuất của khu vực này đạt 41.400 tỷ đồng, thấp hơn 4.200 tỷ đồng so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và khoảng 10.000 tỷ đồng so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; song lại có tốc độ tăng trưởng ngoạn mục 23,3%. Tốc độ này ở khu vực quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài lần lượt là 12,5% và 14,7%.

Với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, dầu khí thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất. Những tháng gần đây nhóm ngành này lại giảm sút mạnh, làm chậm đà tăng trưởng chung của cả khối. Riêng tháng 4, dầu thô khai thác giảm 10,1%, khí đốt thiên nhiên giảm 16,3% và gas hoá lỏng giảm 3,3%. Song nhờ sự đột phá của các nhóm ngành ngành khác, tăng trưởng trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài dần phục hồi, đạt khoảng 14,7% so với mức 13,7% tháng trước.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ trong tháng 3 đã tăng cao trở lại trong tháng 4, cao hơn mức tăng chung 16,4% của toàn ngành. Đáng chú ý là than sạch khai thác tăng 35%, phân hoá học tăng 55,3%, sứ vệ sinh tăng 55,4%, gạch lát 19,5%, thép cán 20,8%, máy công cụ 31,8%, động cơ điện 41,3%, ôtô 34,9%. Sản xuất điện chỉ tăng 13,9% nhưng cao hơn 1,6 điểm phần trăm so với tốc độ tăng quí I.

Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng 4 có tốc độ tăng cao hơn quí I, nên tính chung từ đầu năm tới nay, giá trị sản xuất toàn ngành tăng 15,1% so với cùng kỳ, đạt 138.500 tỷ đồng. Trong đó doanh nghiệp nhà nước đạt 45.600 tỷ, tăng 9,9%; công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 24,2% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,1%.

Những con số đạt được trên đây cho thấy các biện pháp tiết giảm chi phi, đẩy mạnh sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp bước đầu đã mang lại kết quả khả quan. Tuy nhiên, phía sau thành tích tăng trưởng đó, vẫn còn một số điều cần suy ngẫm. Công nghiệp khai thác dầu mỏ, khí đốt - ngành sản xuất không phải lo nhiều về khâu thị trường mà vẫn mang lại nguồn thu lớn - tiếp tục đà giảm sút. Sản xuất máy móc, động cơ chưa có bước đột phá, thậm chí chế tạo động cơ diesel vẫn giảm tới 19,5% so với 4 tháng đầu năm ngoái. Ngành công nghiệp dệt may, da giày đang loay hoay trong vỏ bọc gia công mà chưa tìm được lối để đẩy mạnh giá trị gia tăng. Ngành điện tử dân dụng, ôtô xe máy tăng trưởng ổn định song phần lớn là giá trị lắp ráp gia công. Sản xuất, lắp ráp xe đạp từng là hy vọng của mấy năm trước, khi kim ngạch xuất khẩu tăng cao, nay đang tụt dốc vì vấp phải rào cản thương mại tại các thị trường quốc tế.

Công nghiệp phụ trợ cho các ngành sản xuất vẫn chưa phát triển nên hầu hết nguyên, nhiên, phụ liệu và vật tư máy móc phải lệ thuộc bên ngoài. Bất cứ diễn biến bất thường nào từ thị trường nguyên, nhiên, vật liệu thế giới đều là mối lo tiềm tàng với ngành công nghiệp. Trên thực tế, chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 bắt đầu tăng trở lại sau một tháng bình ổn và được xem như hệ quả tất yếu của việc tăng giá sản xuất, kinh doanh trong nước cũng như giá nhập khẩu các mặt hàng liên quan như sắt thép, xăng dầu, tân dược.

Chương trình nghị sự của Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI, khai mạc 5/5 tới, sẽ không đề cập đến vấn đề điều chỉnh các chỉ tiêu tăng trưởng cũng như chỉ số giá cả. Ngành công nghiệp cũng như các lĩnh vực kinh tế khác, sẽ không được phép "bàn lùi", mà vẫn phải phát huy hết khả năng để tiến lên dưới một áp lực hết sức nặng nề.

Song Linh

Link Site
    • HOSE

    • HNX

    •  
    • Mã CK

    •  
    • TC

    •  
      • Khớp lệnh
      •  
      • Giá
      •  
      • KL
    •  
    • +/-

    •  
    •  
    •  
    •  
    • (Bấm vào nội dung bảng để xem chi tiết)

    •  
  •  
    • HOSE

    • HNX

    •  
      •  
        •  
        •  
        •  
        •  
        •  
      •  
        •  
        •  
        •  
        •  
        •  
    •  
    •  | 

  •  
        •  
        • Mã CKGiá KL Khối lượngThay đổi
          STB 24.2 4,966,400 +1.1 (+4.76%)
          SSI 74.5 3,611,050 -1.5 (-1.97%)
          EIB 22.2 2,414,700 +1.0 (+4.72%)
          REE 45.0 2,269,470 +0.1 (+0.22%)
          VFMVF1 15.0 2,135,760 -0.1 (-0.66%)
        •  
        •  
        • Mã CKGiá KLKhối lượngThay đổi
          KLS 25.3 3,967,600 -1.3 (-4.89%)
          ACB 35.5 3,345,800 +1.4 (+4.11%)
          VCG 47.8 3,277,700 -2.6 (-5.16%)
          KBC 61.5 2,248,100 -0.4 (-0.65%)
          SHB 23.9 2,234,000 +0.4 (+1.70%)
        •  
    •  
    •  
  •  
Video phục kích ở cây xăng "gian"
Những thời khắc khó khăn của Kinh tế thế giới
 
 
 
 
Tìm việc nhanh
Ngành:
Địa điểm:
CareerLink
Lien he quang cao