2005: Tiếp tục chính sách tiền tệ ổn định
 |
| Thống đốc Lê Đức Thúy. |
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN Lê Đức Thuý khẳng định nguyên tắc điều hành lãi suất ngân hàng là tôn trọng quy luật thị trường. Ông cũng dự đoán lãi suất sẽ tăng trong năm nay nhưng không nhiều.
- Thống đốc nghĩ sao về ý kiến Ngân hàng Nhà nước bất lực trước lạm phát?
- Ngay từ khi thị trường có những biểu hiện của lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã có những phân tích rất tỉnh táo từ chiều hướng, nguyên nhân lạm phát để có đối sách thích hợp. Chúng tôi cho rằng lạm phát chủ yếu không bắt nguồn từ nguyên nhân tiền tệ mà là do những cú sốc từ khách quan mang lại. Điều này đã được Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế đồng nhất ý kiến. Vì vậy, biện pháp giải quyết cũng chủ yếu không phải từ chính sách tiền tệ . Nếu thắt chặt tiền tệ sẽ tăng chi phí về vốn dẫn đến giá cả hàng hóa tăng, đồng thời hạn chế đầu tư phát triển.
- Dư âm của lạm phát 9,5%/năm của 2004 vẫn còn kéo dài tới đầu quý I, ông có bình luận gì và động thái của Ngân hàng Nhà nước để ổn định giá ra sao?
- Hiện tại có mấy yếu tố làm tăng giá: dịp Tết, nhu cầu tiêu dùng tăng, điều chỉnh lương mới được lĩnh từ quý I và cúm gà có nguy cơ quay trở lại. Ngân hàng Nhà nước đã có động thái nâng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn kể từ 15/1 để khẳng định các ngân hàng phải huy động vốn từ các nguồn trong dân cư và doanh nghiệp, giảm bớt chỗ dựa vào nguồn cho vay tái cấp vốn của ngân hàng trung ương. Để đối phó với việc tăng giá, ngân hàng nhà nước vẫn yêu cầu giữ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đồng thời điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu lên 0,5%/năm cho hai loại trên. Ngoài ra, tiếp tục điều chỉnh tỷ giá theo hướng giữ ổn định tỷ giá hối đoái. Bên cạnh đó, ngay từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước đã có biện pháp để tăng trưởng tín dụng cả năm nằm trong mục tiêu kiểm soát được (không quá 25%).
- Năm 2005, Ngân hàng Nhà nước có điều chỉnh gì trong lãi suất cho vay và theo xu hướng nào?
- Có 2 yếu tố cần tính đến. Thứ nhất phải kích cầu vốn tín dụng thông qua kênh huy động vốn ngân hàng, theo nguyên tắc thị trường, cầu tăng thì lãi suất giá đồng vốn sẽ tăng. Tiếp theo là yếu tố lạm phát, năm 2004 lạm phát tăng cao so với mục tiêu đề ra dẫn đến tâm lý người dân cân nhắc lựa chọn đầu tư đồng tiền nào có lợi. Đã có sự chuyển dịch đầu tư từ VND sang USD nhưng chưa phải là cú sốc về luồng vốn, vì trong tổng lượng tiền gửi của dân cư năm 2004 tỷ trọng huy động USD vẫn thấp hơn các năm trước. Hiện xu hướng tăng tiền gửi VND đang trở lại (tăng 22% so với đầu năm). Từ giữa tháng 1, Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn lên 0,5%. Lãi suất tái chiết khấu hiện là 5,5%, lãi suất tái cấp vốn là 3,5%.
- Tại sao Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ mức lãi suất cơ bản cho vay, trong khi hiện tại mức lãi suất này gần như không còn ý nghĩa trên thực tế?
- Lãi suất cơ bản không phải để điều chỉnh lượng tiền tái cấp vốn, không quyết định việc cho vay của tổ chức tín dụng. Lãi suất cơ bản công bố chính là lãi suất cho vay đối với ngân hàng tốt nhất , rủi ro ít nhất. Điều này đã được kiểm nghiệm tương đối đúng qua thực tế: một số dự án hiệu quả và những khách hàng tốt nhất đã được vay với lãi suất 7,5%/năm, về sau nó không còn phù hợp nữa. Vì thấy rằng nó không phải là lãi suất chỉ đạo ai cả, Ngân hàng Nhà nước thấy không cần thiết phải thay đổi lãi suất này để tránh hiểu nhầm rằng Ngân hàng Nhà nước đánh ra một tín hiệu: khuyến khích các ngân hàng thương mại tăng lãi suất.
Năm 2004 có những vấn đề rất nhạy cảm: giá cả tăng, nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế cũng tăng nếu làm tuỳ tiện để lãi suất cơ bản tăng không cần thiết, các tổ chức tín dụng có thể tăng nhanh lãi suất, có thể gây khó khăn cho tăng trưởng và tạo ra một làn sóng cạnh tranh về lãi suất huy động vốn. Vì vậy, chủ trương của ngân hàng nhà nước là giữ ổn định cả lãi suất chiết khấu và cả lãi suất tái cấp vốn chứ không riêng gì lãi suất cơ bản.
- Xin thống đốc cho biết tình hình nợ xấu hiện nay?
- Tính đến 31/12/2004, theo báo cáo của đề án xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng, đã xử lý được 91%. Tuy còn một số nợ xấu phát sinh sau 2002, nhưng cho đến nay tổng số nợ xấu hạch toán theo tiêu chuẩn VN so với tổng dư nợ chỉ chiếm khoảng 3,5%, thời điểm cao nhất (1998) nợ xấu lên tới 14% . Con số này có thể chưa chính xác vì có những khoản nợ xấu chưa được phản ánh đầy đủ do cơ chế của chúng ta chưa chặt chẽ. Đó là chưa kể nếu áp dụng những chuẩn mực quốc tế về phân loại nợ thì tỷ lệ này còn có thể cao hơn nhiều.
- Vậy xử lý nợ xấu phải như thế nào?
- Khối ngân hàng cổ phần đã có đủ nguồn tài chính để xử lý nợ xấu. Họ chỉ được xét chia cổ tức sau khi đã xử lý xong nợ tồn đọng hoặc đã trích đủ tỷ lệ dự phòng rủi ro cân bằng với số nợ tồn đọng. Hiện nay các ngân hàng cổ phần hầu hết đã trích đủ, trích thừa và họ chia cổ tức, bình quân có thể 15% hoặc cao hơn.
Đối với quỹ tín dụng nhân dân, hiện có 901 quỹ, những quỹ có nợ xấu đã được xử lý tốt, hiện chỉ còn khoảng 16 quỹ vào loại yếu kém.
Đối với khối ngân hàng thương mại quốc doanh, có nhiều yếu tố làm cho nợ tồn đọng lớn mà một mình nó không thể xử lý dứt điểm được. Theo chuẩn mực cũ, các ngân hàng như Ngoại thương có thể kết thúc sớm, 3 ngân hàng Công thương, Nông nghiệp và Đầu tư cũng phải sau 2005-2006 mới dứt điểm được nợ xấu tồn đọng cũ. Đối với Ngân hàng Đầu tư, theo đánh giá của kiểm toán độc lập, nợ xấu khoảng 6.000 tỷ đồng nhưng con số trích dự phòng rủi ro đã lên tới 3.000 tỷ đồng. Nếu trong năm 2005, họ trích dự phòng rủi ro tích cực hơn thì việc xử lý số nợ xấu trên hoàn toàn khả thi. Nếu đem tất cả số nợ xấu của ngân hàng thương mại để xử lý theo thông lệ quốc tế thì cần tới yếu tố thời gian.
(Theo Thời Báo Kinh Tế VN)