'Luật DNNN là ngôi nhà kém tiện nghi'
“Luật Doanh nghiệp hợp nhất có thể sẽ là một ngôi nhà đẹp, nhưng ngôi nhà ấy có khi lại vắng người ở, trong khi ngôi nhà của Luật Doanh nghiệp nhà nước (DNNN), kém tiện nghi hơn thì vẫn cứ đông người”, ông Nguyễn Đình Cung, thành viên ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp chung, đã ví von như thế.
- Tại sao ông lại so sánh như vậy?
- "Ngôi nhà" doanh nghiệp nhà nước ấy được bao bọc bằng hàng rào, có người bảo vệ, hằng ngày đương nhiên được có thức ăn do người khác mang đến. Những gì tốt đẹp mà chúng ta mong đợi khi xây dựng Luật doanh nghiệp hợp nhất như tạo lập một môi trường kinh doanh, đầu tư bình đẳng có thể sẽ vẫn không đến nếu quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty thực thụ không được đẩy mạnh.
Dự thảo Luật doanh nghiệp chung đang được gấp rút xây dựng để trình Quốc hội vào năm tới, trong đó sẽ quy định tổ chức hoạt động của bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản trong nền kinh tế thị trường (không chỉ ở ta mà cả các nước trên thế giới): doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần. Bất cứ doanh nghiệp nào “chui” vào bốn loại hình này đều bị điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp hợp nhất. Đây là cách tiếp cận mới của Luật doanh nghiệp hợp nhất, vượt qua tất cả các luật về doanh nghiệp hiện nay của chúng ta: nó áp dụng theo loại hình, đặc trưng doanh nghiệp chứ không theo tính chất sở hữu doanh nghiệp. Với hướng tiếp cận như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được lựa chọn một trong bốn loại hình doanh nghiệp để đầu tư kinh doanh tại Việt Nam thay vì chỉ một loại công ty TNHH như hiện nay.
- Tại sao đã là Luật Doanh nghiệp chung (hợp nhất) mà trong số đối tượng điều chỉnh của nó lại không có các doanh nghiệp Nhà nước?
- Lâu nay rất nhiều người nói công ty nhà nước hiện đang hoạt động như công ty TNHH. Hoàn toàn nhầm lẫn. Bởi đã là công ty TNHH thì phải có bốn đặc điểm cơ bản: một, tính chịu trách nhiệm hữu hạn của nhà đầu tư; hai, thực thể pháp lý độc lập; ba, khả năng chuyển nhượng được (dễ dàng) cổ phần (anh chuyển nhượng cho ai là tùy anh); bốn, thực hiện nguyên tắc quản trị tập trung và thống nhất. Trong khi cái gọi là công ty nhà nước của ta hiện nay giỏi lắm chỉ có hai đặc điểm đầu. Còn nếu muốn chuyển nhượng thì phải kiểm tra, kiểm soát, định giá... mất vài tháng, thậm chí vài năm trời.
Hơn thế, điều mấu chốt của vấn đề nằm ở đặc điểm cuối cùng: công ty nhà nước của ta hoàn toàn chưa có nguyên tắc quản trị tập trung và thống nhất. Đã là công ty TNHH hoặc cổ phần, mọi vấn đề liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp (chiến lược kinh doanh, nhân sự...) đều do hội đồng thành viên quyết định; còn đối với công ty nhà nước của ta thì bộ chuyên ngành quyết chiến lược, Bộ Nội vụ quyết nhân sự, Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết về dự án đầu tư, Bộ Tài chính cấp vốn.
Cho nên muốn hoạt động theo Luật doanh nghiệp thống nhất thì công ty nhà nước phải chuyển đổi sang công ty TNHH, công ty cổ phần đích thực hội tụ bốn yếu tố trên. Bản chất của nó là một cuộc cải cách với quá nhiều thách thức, quá nhiều khó khăn. Nhiều người có quyền ở đó, nếu chuyển sang nguyên tắc quản trị tập trung, thống nhất thì không ít người sẽ mất quyền. Điều ấy cảnh báo rằng dù luật có tốt bao nhiêu chăng nữa, công ty nhà nước vẫn có thể ở ngoài.
- Có người nói như thế hóa ra lại quay trở lại cơ chế cũ là không bỏ chủ quản?
- Quan niệm đó có phần sai lầm. Chúng ta bỏ hành chính chủ quản chứ không phải bỏ chủ quản. Một nhà đầu tư bỏ vốn ra không thể bỏ quyền sở hữu của mình được.
Bỏ hành chính chủ quản thế nào? Theo tôi, có hai điều phải làm: thứ nhất, phải tách hẳn chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu vốn đầu tư của Nhà nước ra khỏi bộ máy hành chính; thứ hai, bộ máy tách ra đó không phải hoạt động theo nguyên tắc hành chính mà phải hoạt động theo nguyên tắc kinh doanh, tức là cơ chế vận hành hoàn toàn khác cơ chế quản lý nhà nước.
- Nhưng lâu nay dư luận đang chờ đợi phải đưa doanh nghiệp Nhà nước vào cùng “sân chơi”. Nếu không, Luật doanh nghiệp chung sẽ mất đi ý nghĩa?
- Luật chỉ là điều kiện cần, không phải điều kiện đủ. Làm luật - điều kiện cần dễ hơn nhiều so với sự chuyển đổi - điều kiện đủ. Muốn chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH thật sự như đã nói trên, vấn đề nằm ở cải cách doanh nghiệp Nhà nước chứ không nằm ở luật.
Nếu chuyển được như thế, tính tự do, chủ động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước sẽ được mở rộng, tính minh bạch trong quản lý sẽ đảm bảo, trách nhiệm sẽ rõ ràng. Từ đó thúc đẩy tính tích cực, hiệu quả của công ty nhà nước.
- Như vậy Luật doanh nghiệp chung sẽ đem lại những thay đổi theo hướng nào?
- Tiếp tục đơn giản hóa, tự do hóa thủ tục gia nhập thị trường, không còn phải xin - cho nhiều tầng nấc như hiện nay. Nhưng đối với nhà đầu tư nước ngoài vẫn hạn chế hơn doanh nghiệp trong nước: danh mục cấm đầu tư sẽ dài hơn; thêm danh mục những ngành nghề hạn chế kinh doanh; thêm qui định về mức vốn tối thiểu. Qui định ấy nhằm mục tiêu đơn giản thôi: vào đây làm ăn anh phải lớn một tí, lớn kéo nhỏ chứ không cạnh tranh trực tiếp với nhỏ.
- Có thể hiểu luật này ra đời nhằm mục đích thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thưa ông?
- Đấy chỉ là mục đích trung gian chứ không phải mục tiêu tối thượng. Cái đích cuối cùng của luật là tận dụng hết tiềm năng sẵn có để thúc đẩy, phát triển nền kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu thu hút đầu tư nước ngoài để phục vụ lợi ích... nhà đầu tư nước ngoài thì ta chẳng nên thu hút.
- Nhưng với những gì vừa đề cập, nhà đầu tư nước ngoài chính là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ Luật doanh nghiệp chung này?
- Vấn đề là xét ở góc độ nào? Hiện nay đầu tư trong nước ta đã mở, nếu mở tiếp cho đầu tư nước ngoài thì nền kinh tế của ta sẽ tự do hơn và mức độ hội nhập sẽ sâu hơn. Ở góc độ này nhà đầu tư nước ngoài có lợi.
Nhưng ở góc độ khác, người dân Việt Nam mới là người hưởng lợi cuối cùng. Mục tiêu cơ bản nhất khi xây dựng luật này, theo tôi nghĩ, vẫn không nằm ngoài việc thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn nữa, nâng cao mức sống của người dân, đồng thời hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách, khuôn khổ pháp lý của chúng ta trong quá trình hội nhập.
Còn nếu đề cập vấn đề thu hút đầu tư thì tôi nghĩ rằng việc xây dựng và ban hành luật này chắc chắn sẽ tạo ra những thay đổi cơ bản về thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách về đầu tư nước ngoài của chúng ta hiện nay vẫn được xây dựng trên quan điểm có nhiều điểm giống với một số nước, ví dụ như Hàn Quốc khi họ mới bắt đầu mở cửa thị trường, tự do hóa nền kinh tế cách đây... 30 năm. Khi đó, Hàn Quốc khởi đầu quá trình tự do hóa nền kinh tế của họ, thị trường còn rất hẹp, tính tự do hóa chưa cao nên những qui định đó là hợp lý. Còn bây giờ, quá trình tự do hóa, toàn cầu hóa đã được đẩy lên mức rất cao, sự cạnh tranh nhằm tạo sức hấp dẫn của môi trường đầu tư ngày càng gay gắt, do đó cách làm của chúng ta phải khác.
- Ông tin rằng Luật Doanh nghiệp chung sẽ tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư thời gian tới?
- Chắc chắn vậy. Cải thiện môi trường đầu tư là việc chúng ta vẫn đang làm liên tục để tiếp tục thu hút đầu tư. Tuy nhiên, tạo những bước ngoặt đột phá kiểu như vậy là hết sức cần thiết để kéo các nhà đầu tư vào Việt Nam, thay vì cứ cải thiện môi trường đầu tư một cách đều đều, dần dần như hiện nay.
Chẳng hạn Luật doanh nghiệp hợp nhất sẽ có những điều khoản qui định cụ thể việc tăng thêm quyền cho các nhà đầu tư, cổ đông, tăng thêm các qui định giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên liên quan như nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài, chủ nợ, người lao động, và đặc biệt là quyền lợi của cổ đông thiểu số.
Đồng thời, hệ thống quản trị doanh nghiệp cũng sẽ được áp dụng thống nhất, không phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài như hiện tại.
(Theo Tuổi Trẻ)