Chỉ số giá cả năm tăng khoảng 9,5%
Trong buổi thảo luận về kinh tế xã hội tại Quốc hội chiều 2/11, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy đã thừa nhận, chỉ số giá tăng cao có trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước. Nếu các biện pháp làm kịp thời và quyết liệt hơn, giá cả có thể không như đã xảy ra. Trao đổi của ông với báo giới về vấn đề này.
- Chính phủ đã yêu cầu phải có kiểm điểm trách nhiệm và tìm nguyên nhân trong việc giá tăng đột biến. Theo ông nguyên nhân do đâu?
- Chúng tôi đã tính đến các yếu tố tiền tệ và các yếu tố khác có thể tính được để đưa ra mức lạm phát 5%, cao hơn mức 3% của năm 2003. Giá cả tăng đột biến không bắt nguồn từ chính sách tiền tệ, không thể dùng chính sách tiền tệ của Việt Nam để làm giá dầu thế giới không tăng lên hay làm dịch cúm gia cầm không xảy ra.
- Có thể tính được các yếu tố nào tác động mạnh đến giá cả trong thời điểm cuối năm nay?
- Theo quy luật, cuối năm là lúc các doanh nghiệp đầu tư sản xuất nhiều, người dân tăng tiêu dùng, bên cạnh đó có sự điều chỉnh thang bậc lương làm thu nhập từ lương tăng lên. Những yếu tố này có thể tác động đến tăng giá. Yếu tố khó dự báo là giá dầu quốc tế. Việt Nam đã điều chỉnh tăng 500 đồng/lít xăng, nhưng có thể không tác động nhiều đến chỉ số giá chung. Tôi dự báo giá chỉ tăng 1% trong 2 tháng cuối năm, tin rằng là dự báo hiện thực.
- Nhiều ý kiến cho rằng, việc phát hành tiền mệnh giá lớn và vấn nạn tiền giả có thể tác động tới giá cả và lạm phát, ông nghĩ gì?
- Về tiền mệnh giá lớn, dư luận có nhắc tới. Tôi cho rằng nó có tác động tâm lý nhất định trong thời gian ngắn vào năm ngoái. Những tác động ấy đã được xử lý. Không nên đổ tội cho sự tăng giá do đồng tiền mệnh giá lớn. Tiền giả thì chỉ gây hiệu quả tiêu cực về lòng tin vào đồng tiền, nói nó tác động đến lạm phát là không đúng vì tỷ lệ tiền giả trong tổng phương tiện thanh toán là hết sức nhỏ. Ngân hàng Nhà nước chống tiền giả bằng cách đưa ra những đồng tiền khó làm giả, đồng tiền polymer nhằm mục đích đó.
- Tuy lạm phát thấp mức hơn tăng GDP, nhưng tiền lương thực tế của người hưởng lương lại giảm, liệu có cần khống chế mức lạm phát hơn nữa?
- Lạm phát và tăng trưởng như một sự đánh đổi, nếu lạm phát thấp thì sẽ ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng. Vừa qua, chúng ta có thể làm tốc độ tăng giá giảm nữa: Nếu bằng chính sách tiền tệ, tăng lãi suất ngân hàng lên vài phần trăm thì sẽ thu hẹp quy mô đầu tư và tiêu dùng lại, giá cả sẽ giảm. Nhưng tăng trưởng kinh tế sẽ ảnh hưởng, vì vậy phải cân nhắc để có sự ổn định vĩ mô tương đối.
Khi giá cả đã tăng là có ảnh hưởng đến tiền lương thực tế. Nếu tới đây giá cả tăng tới 20% thì sẽ điều chỉnh lương. Năm nay đã có điều chỉnh tiền lương tối thiểu lên 30%, trong khi tiền lương thực tế giảm 10%, nghĩa là chưa có sự giảm sút mạnh về đời sống. Cuối năm nay, Chính phủ sẽ có sự điều chỉnh thang bậc lương, nghĩa là tiền lương sẽ tăng một mức nữa, sẽ làm giảm áp lực của việc tăng giá.
- Theo ông, lạm phát năm 2005 có thể ở mức nào?
- Thực tế giá cả và lạm phát quý 3-4 đã ở mức khoảng 5%. Năm tới tốc độ tăng giá sẽ không vượt tầm kiểm soát, không cao quá mức tăng trưởng do: Mặt bằng giá năm nay đã cao, khó có các yếu tố có thể làm giá tiếp tục tăng, kể cả giá dầu mỏ hay dịch cúm gia cầm rải rác. Với những yếu tố có thể tính được, mức tăng giá 2005 sẽ thấp hơn tăng trưởng khoảng 1-2%.
|
Thảo luận trước Quốc hội chiều nay, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy cho biết, giá cả năm vẫn tăng khoảng 9,5%, tiền lương thực tế của người hưởng lương giảm, nhiều doanh nghiệp thua lỗ.
Theo ông Thuý, từ tháng 6, Hội đồng chính sách tiền tệ của Chính phủ đã họp đánh giá về tình hình giá cả lạm phát và đánh giá về chính sách tiền tệ trong bối cảnh giá cả 5 tháng đã tăng tới 6,3%. Hiện tượng giá đã tăng vượt chỉ tiêu cả năm quá nhiều là hiện tượng bất thường, gây nhiều tác động tới sản xuất và đời sống, phải xem xét thận trọng để xử lý nhưng phải khách quan và tôn trọng nguyên tắc của thị trường trong bối cảnh hội nhập của kinh tế Việt Nam.
Ông Thuý phát biểu, sự gia tăng cao của giá cả không bắt nguồn chủ yếu từ chính sách tiền tệ. Chính phủ đã tính đến độ trễ của những chính sách tiền tệ trước đó và những nhân tố có thể thấy trước được. Nhưng có những tác động không lường trước được. Biện pháp của Hội đồng là tập trung vào những điều hành kinh tế vĩ mô, điều hành cung cầu nhất là giải quyết những khó khăn về tài chính. Chính phủ đã giải quyết bằng những biện pháp: Nỗ lực khắc phục cúm gia cầm - nguyên nhân làm tăng giá lương thực thực phẩm và làm GDP nông nghiệp trong quý 1 tăng 0%; Hạn mức xuất khẩu lương thực để giá gạo trong nước không tăng quá; Điều chỉnh thuế nhập khẩu phôi thép, xăng dầu, phân bón (làm ngân sách thất thu hơn 4.000 tỷ đồng); Bù lỗ xăng dầu (đến nay 5.700 tỷ đồng). Như vậy ngân sách đã chi gần 10.000 ổy đồng làm giảm tác động tiêu cực của giá cả thế giới tới thị trường trong nước.
Chính sách tiền tệ được giữ ổn định, bổ sung thêm một số biện pháp nhất định nhưng không có những giải pháp mạnh hay thay đổi lớn về định hướng chính sách tiền tệ. Tăng trưởng tín dụng không quá 5%, ổn định tỷ giá hối đoái (NHNN trong 10 tháng chỉ tăng dự trữ ngoại tệ ròng 240 triệu USD), tăng dự trữ bắt buộc.
Theo nhận định của ông Thuý, có thể các biện pháp đưa ra chưa quyết liệt, về cá biệt có thể chưa thật đúng, nhưng cơ bản có hiệu quả: Giá tăng nhưng tốc độ tăng giảm dần. Mức lạm phát quý 3-4 đã xuống 5%. Nền kinh tế chỉ "sốt" trong nửa đầu năm. |
Q. Hà