Thống đốc NHNN: 'Phải tách bạch cho vay chính sách và kinh doanh'
 |
| Thống đốc Lê Đức Thúy: "Cần coi ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt". |
Sáng nay, ông Lê Đức Thúy, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nhấn mạnh như vậy với VnExpress. Theo ông, sự lẫn lộn lâu nay trong thực hiện các chính sách xã hội và kinh tế, cách khoanh nợ "khống" với doanh nghiệp nhà nước đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng.
- Tại kỳ họp Quốc hội trước, Thống đốc đã nói là sẽ cải tạo môi trường tín dụng để ngân hàng hoạt động được như một doanh nghiệp. Từ đó tới nay, quá trình cải tổ này đã có những bước tiến nào?
- Có thể đề cập đến 2 văn bản, thứ nhất là văn bản 1627 mà tôi ký ban hành, cho phép tổ chức tín dụng cho vay với bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào không trái pháp luật và tự chịu trách nhiệm về việc đó. Thứ hai là quyết định về lãi suất thỏa thuận, giống như doanh nghiệp bán cho ai, bán cái gì, giá bao nhiêu là tự nguyện.
Ngoài ra, ngành ngân hàng còn có quy định nới bớt yêu cầu về thế chấp. Làm như vậy xem ra không đúng luật lắm, bởi Bộ luật Dân sự đưa ra nguyên tắc tất cả các giao dịch phải có bảo đảm, trừ trường hợp tín chấp có sự tham gia của các đoàn thể chính trị khi cho người nghèo vay. Tuy nhiên đây là việc cần thiết.
Một số quy định bất cập tới đây cũng cần sửa đổi. Như chính sách khống chế khung lãi suất hẹp hiện hành đánh đồng giữa vay chính sách và vay kinh doanh. Vay tín chấp, rủi ro cao thì giá phải cao, không thể ngang bằng như vay có thế chấp được.
Hiện chúng tôi đang cố gắng hoàn thành chương trình cơ cấu hệ thống ngân hàng. Trong đó làm dứt điểm vấn đề nợ tồn đọng. Rồi tăng cường năng lực tài chính thì mới có khả năng huy động nhiều vốn để cho vay. Thứ nữa là đổi mới quản trị điều hành ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, từ thông số đánh giá chất lượng, đến cách bố trí nhân lực, phân giao nhiệm vụ. Cuối cùng là hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Càng cung cấp nhiều tiện ích thì càng làm cho vốn nhàn rỗi trong xã hội được luân chuyển nhiều lên, giá vốn sẽ rẻ đi và người vay, người cho vay sẽ nhiều hơn. Chương trình này bắt đầu năm 2001, dự kiến tới 2005, những nội dung cơ bản của cải cách cơ cấu ngân hàng sẽ hoàn thành.
Ngân hàng không quan tâm là khách hàng thuộc thành phần kinh tế nào, mà chỉ đặt ra một câu hỏi: cho người đấy vay thì có bảo đảm thu hồi nợ, lãi đúng hạn không?
- Theo ý kiến của nông dân thông qua các đại biểu Quốc hội, họ rất khó tiếp cận vốn của ngân hàng. Nhiều vùng nông thôn, người dân muốn vay phải qua "cò tín dụng". Tại sao lại như vậy?
- Cho vay xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ việc làm ở nông thôn hiện dựa trên tín chấp, nên chỉ có thể cho vay vài triệu. Còn cho vay lớn như nuôi tôm xuất khẩu thì phải có thế chấp, nếu không khi tổn thất lấy gì mà bù đắp. Cần hiểu hoạt động của ngân hàng là huy động từ những người dư dật và cho vay lại kiếm lãi, tự chịu trách nhiệm về tài chính chứ không phải là nguồn tài trợ của Chính phủ.
Với nông dân, cho họ vay ở mức như hiện nay thì độ tín nhiệm trả nợ là cao. Nhưng ở VN còn thiên tai, mà mỗi lần như vậy là dân mất khả năng trả nợ. Về nguyên tắc, có thể khoanh nợ và phải có nguồn tài chính bù đắp cho ngân hàng. Nhưng thường vì khó khăn, Chính phủ chỉ đơn giản là ra quyết định khoanh hoặc giãn nợ mà không cấp bù, gây khó khăn cho ngân hàng.
Hiện tượng "cò tín dụng" xuất hiện do hai nguyên nhân. Thứ nhất, thủ tục cho vay vốn vẫn còn phiền hà và quá tải với cán bộ tín dụng. Một cán bộ ngân hàng nông nghiệp phải quản lý hàng nghìn hộ nông dân, thì không cách gì có thể tiếp nhận, cho vay vốn thuận tiện được. Thứ hai, người dân không nắm vững thủ tục nên bị trung gian lợi dụng.
Gần đây, ngoài ngân hàng nông nghiệp còn có ngân hàng công thương, đầu tư, và cả cổ phần bắt đầu về thị trường nông thôn. Tuy nhiên, vẫn còn khó khăn: cho vay hộ nông dân giống như bán lẻ, mỗi suất vài triệu đồng. Chi phí lớn thì lẽ ra lãi suất phải cao. Nhưng ở ta lại có cách hiểu ngược lại, cho nông dân vay thì phải lãi thấp hơn thành thị. Cứ giữ cách nghĩ và chính sách như vậy thì đương nhiên ngân hàng, với tính chất là đơn vị kinh doanh, sẽ ngại về nông thôn.
- Ông đánh giá thế nào về độ tín nhiệm giữa khách hàng thuộc khu vực dân doanh và khu vực nhà nước?
Việc cho vay với khu vực tư nhân có thể nhìn qua con số: tổng dư nợ của ngân hàng với khu vực tư nhân đạt 40%. Khu vực Nhà nước được vay xấp xỉ 60% vì nhiều doanh nghiệp nhà nước là khách hàng lớn của ngân hàng, như Tổng công ty Bưu chính viễn thông hoặc Tổng công ty Điện lực Việt Nam có thể dư nợ tới 10.000 tỷ đồng. Thế nên tỷ trọng cho vay mới cao như vậy.
Đúng là chính sách cho vay của ngân hàng còn những rào cản, về cả tâm lý xã hội và cơ chế. Chẳng hạn như chỉ thấy Chính phủ khoanh nợ cho doanh nghiệp nhà nước chứ không có quyết định nào khoanh nợ cho doanh nghiệp dân doanh. Điều đó cũng tạo cho phía ngân hàng tâm lý: thích cho vay với anh nào ít rủi ro hơn, và lỡ có thì khi xử lý cũng có chỗ dựa. Về việc này, trong các phiên họp của Chính phủ, tôi đã phát biểu: Làm ăn thì phải sòng phẳng, phải tách bạch chính sách và tài trợ. Tiến nhanh theo hướng đó thì mới có nền kinh tế tính cạnh tranh cao.
Còn doanh nghiệp tư nhân cũng nhiều loại, có số sòng phẳng, có số dùng sai mục đích, thậm chí lừa đảo. Điều này cũng xảy ra với doanh nghiệp nhà nước, vì họ hy vọng được Chính phủ giúp đỡ. Việc cho vay để mở các nhà máy đường là ví dụ khá rõ về việc doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả của gây khó khăn cho ngân hàng.
- Đang có ý kiến là ngân hàng còn trì trệ. Thay vì đến tận nơi mời khách vay thì lại thụ động ngồi chờ?
- Ở Việt Nam, ngoài 5 ngân hàng thương mại quốc doanh còn 38 ngân hàng cổ phần, 31 chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Với khách hàng tốt, các đơn vị này giành giật rất dữ dội. Có nơi chi những khoản thưởng lớn để kéo khách về với mình. Thậm chí có trường hợp khách vay tiền của ngân hàng A, ngân hàng B sẵn sàng hạ lãi suất, cho khách vay để trả nợ A, kéo khách theo về mình. Nhưng phần lớn ngân hàng hoạt động trên địa bàn đô thị, vùng công nghiệp, nhằm tới những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Còn với hộ nông dân thì đương nhiên sự cạnh tranh đó giảm đi.
Trong tương lai, nếu ta mở rộng cơ chế, tạo điều kiện thì sẽ có môi trường cho các ngân hàng “dụng võ”. Như Sài Gòn Thương Tín, khi có chính sách cho phép ngân hàng hoạt động trên bất cứ địa bàn nào (trước đây chỉ được hoạt động trên địa bàn được cấp phép) thì đơn vị này đã lập các tổ tín dụng len lỏi về các địa bàn như chợ, trường học... cho giáo viên và tư thương vay. Sài Gòn Thương Tín nhờ vậy giải ngân tốt, lợi nhuận khá, trong khi lại góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi.
- Nhiều cán bộ ngân hàng nói rằng, vì trách nhiệm của mình quá nặng nề nên không dám mạnh tay cho vay, sợ nếu gặp rủi ro thì lại bị xử lý hình sự. Ý kiến của ông thế nào?
- Làm tín dụng mà nhận thấy được trách nhiệm là điều đáng mừng. Nhưng phải phân định rõ chuyện này: ngân hàng được quyền tự quyết định cho ai vay và vay bao nhiêu, và phải chịu rủi ro về các quyết định đó. Nó cũng giống như doanh nghiệp được quyền bán hàng cho ai và bán thế nào. Theo tôi, khi rủi ro xảy ra, trước hết cán bộ tín dụng đó cần được xử lý nội bộ. Anh ta cho vay vượt hạn mức bao nhiêu, thẩm định chưa đầy đủ thế nào thì chỉ phải xử lý hành chính. Không nên hình sự hóa tổn thất ấy với người cán bộ. Như vậy anh em mới bớt bị áp lực từ bên ngoài.
- Một số vụ án kinh tế gần đây, như vụ Lã Thị Kim Oanh, đều thấy sự liên quan của cán bộ ngân hàng. Có người cho rằng ngân hàng “dính” do bị sức ép từ các quan chức bộ hay chính quyền địa phương?
- Theo tôi, sức ép của các bộ ngành đã ít hơn trước, còn từ chính quyền, cấp ủy địa phương thì vẫn nhiều. Còn như vụ Lã Thị Kim Oanh thì tôi cho rằng có lỗi của phía cán bộ ngân hàng. Bởi họ đã căn cứ vào những văn bản và ý kiến không được bảo đảm chặt chẽ về tài chính, cũng không đúng quy chế. Do đó họ phải chịu tổn thất và phải gánh trách nhiệm. Đúng là cũng có những vị lãnh đạo của bộ này bộ kia không hiểu nguyên tắc, nên hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách có ý kiến với ngân hàng. Tôi cho rằng đó là quyền cá nhân của họ, còn ngân hàng có quyền từ chối sự can thiệp đó.
- Hiện nay việc thanh toán qua ngân hàng vẫn còn hạn chế. Theo Thống đốc, làm thế nào để khắc phục việc dùng tiền mặt quá nhiều ở VN?
- Về tỷ lệ tiền mặt trong tổng thanh toán, theo báo cáo của IMF thì Việt Nam ở mức 24%, tương đương với Ấn Độ, cao hơn Trung Quốc một chút. Còn mức độ dùng tiền mặt, thì số đồng bạc mà người dân ở những nước phát triển sử dụng còn nhiều hơn ở ta. Đúng là nhiều hoạt động thanh toán ở Việt Nam lẽ ra nên qua ngân hàng thì chưa làm được. Và có những hoạt động chi trả bằng tiền mặt, nhưng lại thiếu phương tiện để rút tiền. Vì vậy người dân cứ phải giữ tiền trong người.
Để khắc phục, gần đây các ngân hàng bắt đầu phát triển hệ thống thẻ thanh toán. Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Lý do là đầu tư rất tốn kém, một máy ATM trị giá 30.000 USD, lại phải thêm 30.000 USD tiền hệ thống, vận hành nữa. Mà muốn hiệu quả mỗi ngân hàng phải cần cả nghìn máy. Nhưng vốn của ngành lại eo hẹp, và theo nguyên tắc không được dùng quá nửa vốn điều lệ cho tài sản cố định. Đấy là cái khó bó cái khôn. Vấn đề khác là nền kinh tế của ta vẫn còn những khoản thanh toán rất nhỏ, tới vài nghìn đồng, thì không đủ chi phí để sử dụng thanh toán thẻ được.
Yêu cầu giảm thanh toán bằng tiền mặt đã được chúng tôi đưa vào chương trình cơ cấu hệ thống ngân hàng. Nhưng để được như các nước trong khu vực thì ta phải mất 10 năm nữa. Dự đoán, tỷ lệ tiền mặt trên tổng thanh toán lúc đó sẽ rút xuống dưới 20%.
Nghĩa Nhân
Ảnh: Xuân Thu