Sản xuất sạch phải là điều kiện cần đối với doanh nghiệp
Sáng nay, tại Hà Nội, đã diễn ra Hội nghị quốc gia về sản xuất sạch hơn, nhằm thảo luận các chính sách, kinh nghiệm thực tế và biện pháp tổ chức để đẩy nhanh việc áp dụng sản xuất sạch vào các cơ sở công nghiệp. Đây cũng là mục tiêu giai đoạn I của Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất sạch hơn, do Bộ KHCN&MT mới ban hành.
Theo đánh giá của ông Trần Văn Nhân, Giám đốc Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, cho đến nay, phần lớn các xí nghiệp được xây dựng trước khi Luật môi trường ra đời và các khu công nghiệp ở nước ta vẫn chưa có hệ thống xử lý chất thải hoàn chỉnh. Điều này đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng về rác, nước hay khí thải, đặc biệt tại các nhà máy công nghiệp nằm xen trong khu đô thị lớn như TP HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Cần Thơ, Việt Trì…
Mặt khác, với việc Việt Nam chính thức gia nhập AFTA vào năm 2006, hàng rào thuế quan phần nào được dỡ bỏ, thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ mất đi ưu thế cạnh tranh hiện nay. Yêu cầu lớn đặt ra từ nay đến lúc đó là phải cải tiến công nghệ và quản lý, đáp ứng được các tiêu chuẩn về sản phẩm và môi trường. Sản xuất sạch hơn chính là một công cụ mạnh giúp các doanh nghiệp đạt được phần nào hai mục tiêu đó.
Ông Nhân cho biết, về nguyên tắc, sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục các biện pháp phòng ngừa môi trường tổng hợp như quản lý tốt các khâu đầu vào, đầu ra, thay thế nguyên liệu, kiểm soát các quá trình sản xuất, chế biến, cải tiến thiết bị, thay đổi công nghệ… Nhưng thực tế, đôi khi chỉ một động tác nhỏ như chỉnh lại nhiệt độ lò, thay đổi tỷ lệ, thành phần nguyên liệu, hay cấp nước đúng giờ cũng có thể đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn, làm giảm tiêu hao điện nước, than củi, giảm chất thải rắn hay tránh được tình trạng nước thải bị pha loãng.
Từ năm 1995 trở lại đây, thông qua các dự án tài trợ quốc tế, sản xuất sạch hơn đã được thử nghiệm tại Việt Nam, với sự tham gia trình diễn của trên 60 doanh nghiệp. Kết quả các dự án trình diễn cho thấy, các doanh nghiệp đều đã tiết kiệm được lượng lớn nguyên, nhiên liệu, nước, hóa chất…, nhờ đó đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể, cá biệt có doanh nghiệp tiết kiệm được 2-3 tỷ đồng/năm với thời gian hoàn vốn dưới 6 tháng. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng giảm được 20-30% chất thải vào môi trường.
Một điển hình áp dụng thành công sản xuất sạch hơn là Công ty giấy Việt Trì. Với khoản đầu tư 245 triệu đồng, công ty đã tiết kiệm được 2.226 triệu đồng/năm, giảm 6% lượng bột giấy, 29% hoá chất tẩy, 15% nước. Đó là chưa kể lợi ích to lớn về mặt môi trường, như giảm 550.000 m3 nước thải, 30% tải lượng hữu cơ... Nhiều công ty khác cũng đã đạt hiệu quả cao khi áp dụng sản xuất sạch hơn như Công ty Bia Ninh Bình, Cơ sở dệt nhuộm Thiên Hương, nhà máy Vissan...
Tuy nhiên, con số 60 doanh nghiệp tham gia còn là quá nhỏ so với tổng số doanh nghiệp của cả nước. Hơn nữa, tuy đã có 18 tỉnh và thành phố tham gia, nhưng hoạt động sản xuất sạch hơn mới chỉ tập trung ở 3 ngành giấy, dệt, thực phẩm (chế biến thủy sản và bia), nhiều cơ sở còn tham gia theo kiểu hình thức. Hoạt động hỗ trợ để doanh nghiệp duy trì sản xuất sạch hơn còn rất yếu, và mang tính phong trào.
Như vậy, mục tiêu trong những năm tới là phải nhanh chóng đưa sản xuất sạch hơn vào nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau, cũng như biến nó thành điều kiện không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng vấp phải những khó khăn khi áp dụng sản xuất sạch hơn. Thứ nhất, lãnh đạo các doanh nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ về vấn đề này hoặc sức ì tâm lý quá lớn, dẫn đến tình trạng quan tâm không đúng mức hoặc bỏ lửng. Thứ hai, theo như kiến nghị của Công ty cổ phần thực phẩm Thiên Hương và nhiều doanh nghiệp khác, ngoài những giải pháp đơn giản có thể thực hiện ngay, thì những giải pháp đòi hỏi kinh phí lớn (như làm mới hoặc cải tiến hệ thống xử lý nước thải, cải tiến dây chuyền thiết bị…) đôi khi là vượt quá khả năng. Đại diện của Công ty cổ phần dây lưới thép Nam Định cho biết, ngay cả khi họ đã xử lý được chất thải về dạng rắn, thì cũng không biết đổ đi đâu. Trường hợp này doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ kinh phí từ phía Nhà nước. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ chuyên trách còn thiếu kiến thức, vì vậy khó mà áp dụng chiến lược sản xuất sạch thành công.
Như vậy, muốn hoạt động sản xuất sạch hơn trở nên phổ biến, Nhà nước cần kích thích để doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng của sản xuất sạch hơn, và nếu cần thì phải có các biện pháp cưỡng chế. Nhà nước cũng có thể hỗ trợ về mặt kinh phí, hoặc cho vay ưu đãi đối với những giải pháp xử lý môi trường trong các doanh nghiệp; mở rộng các lớp tập huấn về sản xuất sạch hơn. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng chỉ nên áp dụng việc xử lý chất thải sau khi đã thực hiện các chương trình giảm thiểu có hiệu quả.
Một mô hình rất đáng được xem xét và nhân rộng là lập quỹ môi trường, ưu tiên cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp để thực hiện các dự án về sản xuất sạch hơn. Hiện tại, một số địa phương như TP HCM, quận Thanh Xuân (Hà Nội) đã xây dựng thành công loại quỹ này.
Bích Hạnh